ĐẶT VẤN ĐỀ Phát triển là một quá trình tăng trƣởng bao gồm nhiều yếu tố khác nhau nhƣ: kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế… Mục tiêu của phát triển là nâng cao điều kiện sống của con ngƣời bằng cách phát triển các hoạt động sản xuất, cải tiến quan hệ xã hội và nâng cao chất lƣợng cuộc sống. Tuy nhiên, với sự tiến bộ của xã hội, cùng với sự tăng trƣởng kinh tế, các tác động môi trƣờng ngày một gia tăng và trở thành vấn đề đặc biệt nóng bỏng.Vì vậy, việc xem xét dung hòa giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trƣờng để đạt tới sự phát triển bền vững là hết sức cần thiết. Đánh giá phát triển bền vững là một vấn đề phức tạp, các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững phải đƣợc lựa chọn cùng lúc tại 3 lĩnh vực: sinh thái, kinh tế và xã hội. Để lựa chọn các tiêu chí, chỉ thị đánh giá còn phải cân nhắc đến một số yếu tố liên quan nhƣ: cấp độ đánh giá, đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực.
Bên cạnh đó những khó khăn đặt ra của công việc đánh giá phát triển bền vững còn ở các vấn đề nhƣ thời gian, kinh phí, điều kiện. làm ảnh hƣởng tới kết quá đánh giá có thể gây nên thiếu chính xác. Vậy để khắc phục những khó khăn trên cần lƣợng hoá phát triển bền vững là rất cần thiết, việc xây dựng chỉ số đánh giá vừa giúp cho đánh giá phát triển bền vững đƣợc trở nên trực quan, rõ ràng mà lại đơn giản và dễ áp dụng. Thị trấn Xuân Mai huyện Chƣơng Mỹ, Hà Nội đang bƣớc vào một giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội mới với nhiều ngành nghề kinh tế đa dạng: nông nghiệp kinh tế trang trại, công nghiệp – xây dựng, kinh doanh - dịch vụ.
mang lại nhiều thành quả đáng kể. Để đánh giá tác động tổng hợp cũng nhƣ tính toán bền vững của hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trƣờng trong khu vực hiện chƣa có một nghiên cứu, báo cáo cụ thể nào về vấn đề này tại khu vực. Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn, đề tài:“Đánh giá mức độ bền vững địa phƣơng bằng chỉ số LSI tại thị trấn Xuân Mai – huyện Chƣơng Mỹ – Hà Nội” đƣợc thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội và các vấn đề môi trƣờng một số địa phƣơng, từ đó đƣa ra một số giải pháp phát triển bền vững kinh tế - xã hội kết hợp với bảo vệ môi trƣờng và chất lƣợng sống cho cộng đồng 1 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Sự hình thành và phát triển phƣơng pháp kiến tạo chỉ số trongđánh giá PTBV 1. Khái niệm cơ bản 1. Tiêu chí đánh giá Tiêu chí đánh giá là các thông tin phản ánh những quá trình đang xảy ra trong một hệ thống, chúng là các cửa sổ nhỏ cung cấp những cái nhìn về một bức tranh lớn, chúng cho chúng ta biết hƣớng phát triển của một hệ thống: tiến bộ hay thoái hóa, tăng giảm hay ổn định. Các yếu tố cấu thành một hệ thống lớn bao giờ cũng là những hệ thống con vì thế các tiêu chí nhiều trƣờng hợp cũng là những tiêu chí phức tạp, đƣợc xác định bằng một số các tiêu chí đơn giản hơn.
Đặc tính của hệ thống: - Mỗi tiêu chí là đặc điểm đặc trƣng nhất của hệ thống con - Mỗi tiêu chí có thể gồm một số tiêu chí đơn giản hơn - Các tiêu chí không nhất thiết phải là định lƣợng 1. Chỉ thị (Indicator) Chỉ thị là những thông tin đặc trƣng,cô đọng, đơn giản và định lƣợng, phản ánh bản chất của 1 yếu tố, một tổ phần, một tính chất của hệ thống. Chỉ thị đánh giá đƣợc xây dựng từ các tiêu chí cụ thể. Một tiêu chí nếu thỏa mãn các tiêu chuẩn sau đây thì trở thành chỉ thị đánh giá - Định lƣợng đƣợc hoặc có thể lƣợng hóa - Đƣợc xác định nhanh, đơn giản và giá cả hợ lý Hai tiêu chuẩn trên cho thấy một tiêu chí chỉ có thể trở thành chỉ thị nếu nó trở thành phép đo định lƣợng, có kiểm chứng, tính toán đơn giản với chi phí thấp.
Những tiêu chí nào không thể định lƣợng để trở thành chỉ thị thì chỉ có ý nghĩa tham khảo và phục vụ cho việc đánh giá hỗ trợ. Chỉ số (Index) Chỉ số là chỉ thị tổng hợp duy nhất của một hệ thống, phản ảnh thực trạng của hệ thống, cho phép nhà quản lý đề xuất giải pháp phát triển bền vững. Ví dụ: Chỉ số đo độ giàu nghèo tiềm năng CPM( Capability Poverty Measure) (UNDP,1997) đƣợc cấu thành từ 3 chỉ thị liên quan: - Tỷ lệ trẻ em dƣới 5 tuổi bị suy dinh dƣỡng. - Tỷ lệ số ca sinh đẻ không đƣợc chăm sóc bởi nhân viên y tế đƣợc đào tạo - Tỷ lệ phụ nữ từ 15 tuổi trở lên bị mù chữ Lợi thế của chỉ số ở chỗ trong quá trình đánh giá các hệ thống lớn nhƣ hệ thống phát triển, công chúng chỉ quan tâm đến các chỉ số mà không cần rõ chúng đƣợc xây dựng bằng cách nào.
Chúng chỉ cần căn cứ vào các giá trị của chỉ số đó để đánh giá hệ thống. Nói cách khác, chỉ số nhƣ phần nối của tảng băng trôi, có thể dựa vào phần nổi để đoán định phần chìm của tảng băng. Bộ chỉ thị (Set of indicator) Trong thực hành đánh giá hệ thống, nhiều khi ngƣời ta không đạt đƣợc sự đồng thuận của các bên liên quan và của xã hội về các chỉ số.Ngƣời ta đành phải giải trình việc đánh giá rất nhiều chỉ thị. Các chỉ thị này tổng hợp thành một hay một số bộ chỉ thị.
Nhƣ vậy, bộ chỉ thị bao gồm các nhóm chỉ thị. Bộ chỉ thị cho phép đánh giá chất lƣợng của từng yếu tố trong hệ thống thông qua các nhóm chỉ thị.Tuy nhiên, không chỉ rõ hệ thống đó tốt đến mức nào và cũng không cho phép so sánh các hệ thống với nhau. Sơ lược về phương pháp kiến tạo chỉ số trong đánh giá PTBV Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm dung hòa 3 lĩnh vực chính: Kinh tế - Xã hội – Môi trƣờng. Vì vậy, việc đánh giá PTBV không thể thiếu các tiêu chí về môi trƣờng, có thể nói phƣơng pháp kiến tạo chỉ số để đánh giá môi trƣờng đã đặt những nền tảng đầu tiên cho việc đánh giá PTBV.Những thành tựu của kiến tạo chỉ số để đánh giá môi trƣờng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho kiến tạo chỉ số trong đánh giá PTBV.
3 Thập kỷ cuối cùng của thế kỳ XX cũng là thời gian phƣơng pháp kiến tạo chỉ số để đánh giá phát triển bền vững gặt hái đƣợc nhiều thành công. Đƣợc nhƣ vậy cũng là nhờ những thành tựu của kiến tạo chỉ số trong lĩnh vực môi trƣờng cũng nhƣ trong lĩnh vực phát triển con ngƣời đã đƣợc tạo dựng từ trƣớc. Nhìn về thời kỳ xuất phát của việc đánh giá PTBV bằng kiến tạo chỉ số có thể coi sáng kiến của Kuik và Verbrugen (1991) là xuất phát điểm. Trong tài liệu khoa học có tên “ Tìm kiếm các chỉ thị phát triển bền vững”, các tác giả đã đề xuất phƣơng pháp AMOEBA để đánh giá độ bền vững của hệ sinh thái.
Sau công trình đột phá củaKuik và Verbrugen, hàng loạt các đề xuất khác đã xuất hiện nhƣ: chỉ thị dự báo tính bền vững (Bratt, L., 1991), chỉ thị trong phát triển bền vững (EC,1991). Năm 1995, bộ chỉ thị đầu tiên tại bang Seattle đƣợc đề xuất gồm 40 chỉ thị gộp thành 5 nhóm.Đây là một sự kiện nổi bật vì lần đầu tiên các chỉ thị xã hội và kinh tế đƣợc đƣa vào đánh giá PTBV cùng với các chỉ thị môi trƣờng của một địa phƣơng cụ thể. Ứng dụng và cải tiến bộ chỉ thị Seattle, De La Court et al. (1999) đã xây dựng bộ chỉ thị bền vững của thành phố Hague, Hà Lan gồm 6 nhóm với 19 chỉ thị, trong đó đã tổ hợp đƣợc các tiêu chí về kinh tế, xã hội và môi trƣờng đô thị.
Thời kỳ 1995 – 1997 đƣợc đánh dấu bằng sự đầu tƣ của Ủy ban PTBV của cộng đồng Châu Âu và Liên Hiệp Quốc cũng nhƣ của một số chính phủ các nƣớc công nghiệp (Anh, Hoa Kỳ) vào việc xây dựng thử nghiệm các bộ chỉ số phức tạp, đa dạng gồm hàng trăm chỉ thị đơn của các mảng môi trƣờng, kinh tế và xã hội. Bộ chỉ thị phức tạp này đòi hỏi một cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh, kịp thời.Tính phức tạp và tốn kém của các bộ chỉ thị số quá cụ thể và chi tiết này khiến chúng ít đƣợc áp dụng rộng rãi trên thế giới. Tiếp theo đó là sự cố gắng của rất nhiều các nhà khoa học trên thế giới đƣợc mình chứng bằng sự ra đời của một loạt các chỉ số có hiệu quả trong đánh giá PTBV đƣợc ứng dụng thực tiễn hơn. 4 Vào những năm cuối thể kỷ XX (1996 – 1998) đến nay, các nhà khoa học đã phát triển và ứng dụng phƣơng pháp xây dựng chỉ số đánh giá trong việc đánh giá hệ thống môi trƣờng và phát triển.
Các chỉ số Độ đo bền vững BS (IUCN,1998), chỉ số bền vững nuôi trồng thủy sản ASI, chỉ số bền vững địa phƣơng LSI (Nath and Talay, 1998) đã là viên gạch móng đầu tiên cho việc xây dựng các chỉ số định lƣợng có yếu tố môi trƣờng. Những cố gắng của 2 nhà khoa học Bỉ Nath & Talay (1998) đƣa ra nguyên tắc xây dựng chỉ số bền vững ASI đánh giá PTBV hoạt động nuôi trồng thủy sản ASIE : Mảng phúc lợi sinh thái (5 chỉ số đánh giá) ASIH : Mảng phúc lợi nhân văn (5 chỉ số đánh giá) K: Hệ số cân bằng Nếu ASIE> ASIH thì K =ASIE /ASIH Nếu ASIE< ASIH thì K = ASIH /ASIE Năm 1996, IUCN đề xuất bộ chỉ thị BS đƣợc biểu hiện bằng đồ thị trên hệ trục tọa độ vuông gốc. Trục tung là giá trị phúc lợi nhân văn, trục hoành là giá trị phúc lợi sinh thái. Mỗi loại phúc lợi gồm 5 chỉ thị phức tạp.
Các hệ thống phát triển có thể đạt các giá trị của từng loại phúc lợi từ 0 đên 100 Bảng 1.