CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Tìm hiểu về đánh giá Đánh giá giáo dục được ra đời và phát triển mạnh mẽ ở các nước phương Tây, các thuật ngữ nguyên bản thường được viết bằng tiếng Anh, sau này du nhập và phát triển thêm ở các nói ngôn ngữ khác. Thuật ngữ đánh giá: Tiếng Anh có rất nhiều từ chỉ sự đánh giá, những từ hay được sử dụng để chỉ đánh giá giáo dục liên quan đến đánh giá kết quả học tập của học sinh là Test, Measurement, Assessment và Evaluation.
Trong thực tế, các tài liệu bàn về đo lường và đánh giá, những định nghĩa và phân loại chưa phải đã thống nhất, rạch ròi.Chopin đã có bài viết bàn về các thuật ngữ đánh giá: Evaluation, Assessment và Measurement trong cuốn “The International Encyclopedia of Educational Evaluation” [27]. Ông cho rằng: “Theo các nhà giáo dục học, các thuật ngữ evaluation, testing và measurement dường như có thể dùng thay thế cho nhau”. Ông cũng chỉ ra rằng: “Theo Ralph Tyler, người được xem như là sáng lập ra thuật ngữ về đánh giá giáo dục, cho rằng thuật ngữ evaluation, assessment và measurement đều có một nghĩa chung là testing. Trên thực tế, mỗi thuật ngữ này đều sử dụng hình thức test (kiểm tra, bài kiểm tra) nhưng không từ nào đồng nghĩa với testing (trắc nghiệm) cả, và các bài kiểm tra trong 3 quy trình này có thể khác nhau.
Nitko trong cuốn “Educational Assessment of Students” cho rằng: “Người ta thường sử dụng các thuật ngữ Assessment, Test, Measurement và Evaluation thay thế cho nhau, nhưng quan trọng là phải biết phân biệt chúng. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Và ông cũng có giải thích các nội hàm của các thuật ngữ chỉ sự đánh giá trên như sau: (1) Thuật ngữ Test Test được hiểu thường được sử dụng theo hai nghĩa: (1) kiểm tra, bài kiểm tra; (2) trắc nghiệm, bài trắc nghiệm. Theo nghĩa kiểm tra: Kiểm tra (Test) chính là phương tiện và hình thức của đánh giá. Thông qua kiểm tra, giáo viên có thể biết được chính xác năng lực học tập của người học, làm cơ sở cho việc đánh giá kết quả học tập.
Theo nghĩa trắc nghiệm: Trắc nghiệm trong giáo dục là một phương pháp đo để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh (chú ý, tưởng tượng, ghi nhớ, thông minh, năng khiếu,.) hoặc để kiểm tra đánh giá một số kiến thức, kỹ năng kỹ xảo, thái độ của học sinh. (2) Thuật ngữ Measurement Measurement là phép đo, sự đo lường. Có nhiều định nghĩa về Measurement, chúng tôi hiểu như sau: Đo lường (Measurement) là một phương pháp đánh giá định lượng. Đo lường (Measurement) là việc gán các con số vào các cá thể theo một hệ thống quy tắc nào đó.
(3) Thuật ngữ Assessment Assessment có nghĩa là sự đánh giá, sự ước định. Có nhiều cách diễn đạt về Assessment. Có người dịch là Đánh giá, người dịch là Lượng giá. Theo chúng tôi, Assessment được dịch là Đánh giá.
Assessment (đánh giá): - Là một quá trình thu thập các bằng chứng; - Bao gồm các hoạt động, kiểm tra; - Đưa ra các nhận định, phán xét, kết luận, phân loại, xếp loại. (4) Thuật ngữ Evaluation: 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Evaluation có nghĩa là sự định giá, sự ước định. Ở Việt Nam có tài liệu dịch là định giá, có tài liệu dịch là đánh giá. Các tác giả đưa ra các cách lý giải khác nhau về Evaluation.
Vậy có thể hiểu: Evaluation (Đánh giá): - Là một quy trình có tính hệ thống để xác định mức độ các học sinh đạt được các mục tiêu giáo dục; - Bao gồm những mô tả định lượng và định tính + những nhận định giá trị; - Đưa ra phán xét về giá trị sản phẩm thực hiện của học sinh; - Ra quyết định về quá trình giáo dục tiếp theo. Định nghĩa về đánh giá Jean - Marie Deketele định nghĩa: “Đánh giá có nghĩa là: + Thu thập một tập hợp thông tin đủ thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy; + Xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và một tập hợp tiêu chí phù hợp với các tiêu chí định ra ban đầu hay đã điều chỉnh trong quá trình điều chỉnh thông tin; + Nhằm ra một quyết định”. Mager (Pháp) thì “Đánh giá là việc miêu tả tình hình của học sinh và giáo viên để dự đoán công việc phải tiếp tục và giúp học sinh tiến bộ”. [10] Trong cuốn “Cơ sở lí luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông”, tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc quan niệm: “Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lý giải kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo”.[10] 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong cuốn tài liệu “Đánh giá trong giáo dục”, Trần Bá Hoành đưa ra định nghĩa “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc".
[4] Đề tài “Thử xác định chuẩn đánh giá, công cụ và quy trình đánh giá hai bộ môn Văn - Tiếng Việt và Toán ở trường THCS” đưa ra cách hiểu về đánh giá như sau: “Đánh giá là sự đối chiếu với mục tiêu đào tạo đã đề ra mà xác định được chất lượng của kết quả đào tạo và tự đào tạo đối với học sinh trong nhà trường”. Trong cuốn "Kiểm tra- đánh giá trong dạy học đại học”, tác giả Đặng Bá Lãm cho rằng, “Đánh giá là một quá trình có hệ thống bao gồm việc thu thập, phân tích, giải thích thông tin nhằm xác định mức độ người học đạt được các mục tiêu dạy học”. [8] Vậy, tuy có nhiều khái niệm nhưng chúng ta có thể thống nhất với nhau ở những điểm sau, muốn đánh giá một con người hay sự vật nào, cần phải xác định: - Mục đích đánh giá là gì - Sẽ sử dụng công cụ nào đánh giá - Sẽ thu thập những bằng chứng gì - Sẽ phân tích các chứng cứ ấy bằng phương pháp nào Vậy đánh giá mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến kết quả học tập của sinh viên là gì? Đó là quá trình có hệ thống nhằm định lượng được giá trị ảnh hưởng của các yếu tố đến kết quả học tập của sinh viên. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Phương pháp học tập Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách xử lý thông tin lấy từ môi trường sống xung quanh mình. Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích nhất định để giải quyết những nhiệm vụ nhất định trong nhận thức, trong thực tiễn [14]. Như vậy, phương pháp học là tổng hợp các cách thức học tập nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Entwist (1987), Biggs (1987) và Do Spencer (2003) chỉ ra có ba phương pháp tiếp cận trong học tập gồm phương pháp tiếp cận sâu, phương pháp tiếp cận bề mặt và phương pháp tiếp cận chiến lược.
Phương pháp tiếp cận sâu được đặc trưng bởi sự tham gia tích cực của SV với các vấn đề của từng môn học. Biểu hiện ở người học tích cực, chủ động trong quá trình học tập, chủ động tìm kiếm tài liệu, liên kết kiến thức với kinh nghiệm sống, phản hồi những gì không hài lòng, tìm hiểu kiến thức từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, tích cực học tập trong lớp. Phương pháp tiếp cận bề mặt được biểu hiện người học tiếp nhận một cách thụ động các kiến thức được truyền dạy từ giáo viên mà không hề có sự suy nghĩ, sao chép kiến thức, học đối phó, chấp nhận nguồn tài liệu duy nhất và tin cậy là giáo viên. Phương pháp tiếp cận chiến lược (thành tích) được đặc trưng bởi sự tổ chức có hiệu quả, quản lý thời gian và sự thường xuyên trong học tập của SV.
Marton và Saljo (1997) [32] cho thấy mối quan hệ giữa cách tiếp cận bề mặt dẫn đến sự tái hiện từ vựng tốt hơn và chi tiết hơn trong khi cách tiếp cận chiều sâu đến việc kiến tạo ý nghĩa của bài khóa. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bigg, J & Moore, P.J (1993) [21] tìm ra mối tương quan có ý nghĩa về mặt thống kê giữa điểm thi và cách tiếp cận trong đại học: có mối tương quan thuận với cách tiếp cận thành tích và tương quan nghịch với cách tiếp cận bề mặt. Các hình thức biểu hiện của thành tích học tập tích cực được tác giả Lê Thị Xuân Liên tổng kết các biểu hiện đó là: - Xúc cảm học tập: Thể hiện ở niềm vui, sốt sắng thực hiện yêu cầu của GV, hăng hái trả lời các câu hỏi của GV đặt ra, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra. Hay thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ.
+ Chú ý: Thể hiện ở việc tập trung chú ý, lắng nghe, theo dõi mọi hành động của GV. + Sự nổ lực của ý chí: Thể hiện sự kiên trì, nhẫn nại, vượt khó khăn khi giải quyết nhiệm vụ nhận thức. Kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng trước những tình huống khó khăn. Có quyết tâm, có ý chí vươn lên trong học tập.
+ Hành vi: Hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập (hay phát biểu ý kiến, bổ sung các câu trả lời của bạn, ghi chép cẩn thận đầy đủ, cử chỉ khẩn trương khi thực hiện các hành động tư duy). + Kết quả lĩnh hội: Nhanh, đúng, tái hiện được khi cần, chủ động vận dụng được kiến thức, kỹ năng khi gặp tình huống mới để nhận thức những vấn đề mới. Đặc biệt, tích cực học tập có mỗi liên hệ nhân quả với các phẩm nhân cách của người học như: + Tính tự giác: Đó là sự tự nhận thức được nhu cầu học tập của mình và có giá trị thúc đẩy hoạt động có kết quả. + Tính độc lập tư duy: Đó là sự tự phân tích, tìm hiểu, giải quyết các nhiệm vụ của nhận thức.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.