MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Áp lực dân số ngày càng gia tăng, quỹ đất dành cho sản xuất nông nghiệp liên tục bị thu hẹp. Để đáp ứng đƣợc nhu cầu lƣơng thực, thực phẩm cho con ngƣời và vật nuôi, thế giới đã phát triển mạnh mẽ các phƣơng pháp canh tác mới và kỹ thuật công nghệ hiện đại trong cả chăn nuôi và trồng trọt, mang lại năng suất cao, tạm thời giải quyết đƣợc vấn đề an ninh lƣơng thực. Tuy nhiên, việc sử dụng các biện pháp tiên tiến, hiện đại kết hợp với việc sử dụng một lƣợng lớn phân bón hóa học, thuốc trừ sâu.tràn lan trong một thời gian dài đã gây ra các thảm họa về sinh thái, hạn chế các chức năng của môi trƣờng, đặc biệt là môi trƣờng đất.
Hiện nay đã phát triển mạnh các mô hình canh tác theo hƣớng thâm canh cao ở những vùng đồng bằng – nơi đất có sức sản xuất tốt, và giai đoạn đầu đã mang lại những thành công nhất định về năng suất. Tuy nhiên, các kỹ thuật thâm canh không hợp lý trong một thời gian dài làm mất dần độ phì nhiêu của đất, hàm lƣợng các chất hữu cơ giảm sút nghiêm trọng, các nguyên tố vi lƣợng bị rửa trôi hoặc bị sử dụng hết, khả năng đệm của môi trƣờng đất bị phá vỡ và biến động pH đất gia tăng, làm cho các hệ thực vật đất và vi sinh vật đất bị tiêu diệt, phát triển mạnh côn trùng, cỏ dại và vi khuẩn kháng thuốc trừ sâu; các quá trình xói mòn, rửa trôi xảy ra mạnh mẽ.Nông nghiệp theo hƣớng thâm canh cao một cách phổ biến nhƣ hiện nay là một vấn đề mang tính toàn cầu và cần phải thay đổi. Đối với những vùng trung du và miền núi, hình thức sản xuất nƣơng rẫy lại là kế sinh nhai đã trở thành tập quán lâu đời của cƣ dân sống ở vùng núi cao, đã và đang biến nhiều vùng đất đai trù phú và giàu tài nguyên trở thành hoang mạc, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng về môi trƣờng. Mất rừng làm phá vỡ cân bằng sinh thái, là nguyên nhân của tình trạng sạt lở đất, lũ quét và nạn rửa trôi, cuốn đi nhiều triệu mét khối đất màu mỡ, để lại đằng sau là những bãi đất trống khô cằn, trơ sỏi đá, độ ẩm giảm sút, các loài cây chịu hạn hoang dại xuất hiện nhƣ xƣơng rồng, sim mua, cỏ tranh.xâm lấn các bãi đất trống và ngày càng lan rộng.
Khả năng phục hồi lại rừng là hết sức khó khăn, năng suất cây trồng nông – lâm nghiệp giảm sút, hàng 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngàn hecta đất không thể trồng trọt. Canh tác trên đất dốc với hình thức đốt nƣơng làm rẫy là nguyên nhân làm mất rừng lớn nhất, gây ra những tác động mạnh mẽ đến môi trƣờng, đặc biệt là suy thoái môi trƣờng đất nghiêm trọng. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học – kỹ thuật và những hậu quả môi trƣờng do các mô hình canh tác không hợp lý trƣớc đây đã tạo ra, loài ngƣời nhận thấy cần phải có một hƣớng đi mới để giải quyết các vấn đề cấp bách trên. Một mô hình canh tác mới đƣợc hình thành và phát triển, đó là mô hình nông nghiệp hữu cơ.
Đây là hình thức sản xuất nông nghiệp đã đƣợc áp dụng từ xa xƣa nhƣng chúng ta không quay trở về với quá khứ, mà ngƣợc lại chúng ta đang phát huy sức mạnh của nó - hình thức sản xuất bền vững đáp ứng đƣợc những tiêu chí cần thiết trên cả 3 phƣơng diện kinh tế - xã hội – môi trƣờng mà các hình thức sản xuất khác không làm đƣợc. Với tính cấp thiết trên, luận văn đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ đến môi trường đất tại xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội”. Mục tiêu nghiên cứu - Tìm hiểu về các phƣơng thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên thế giới, Việt Nam và phân tích các lợi ích của hình thức sản xuất này. - Phân tích tác động của một mô hình sản xuất nông nghiệp cụ thể đối với môi trƣờng đất tại xã Thanh Xuân – Sóc Sơn – Hà Nội thông qua việc phân tích một số các chỉ tiêu về đất.
Ý nghĩa của đề tài: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cho thấy đƣợc vai trò, lợi ích của phƣơng thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ; góp phần quan trọng trong việc cần thiết phải thay đổi hình thức canh tác theo hƣớng thân thiện với môi trƣờng, đảm bảo chất lƣợng sản phẩm và an ninh lƣơng thực. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm chung về nông nghiệp hữu cơ Khái niệm “nông nghiệp hữu cơ” bắt đầu đƣợc phát triển trong những năm 1920 – 1940, từ sáng kiến của một số ngƣời tiên phong nhƣ Robert Rodale, Rudolf Stainer, Sir Albert Howard và Eva Balfour lần đầu xuất bản cuốn sách ý tƣởng của họ về nông nghiệp hữu cơ. Họ đã cố gắng cải tiến hệ canh tác truyền thống cùng với các phƣơng pháp đặc trƣng của canh tác hữu cơ[18].
Khi việc áp dụng các giống có năng suất cao kết hợp với cơ giới hóa và sử dụng các hóa chất nông nghiệp trở nên phổ biến (nông nghiệp “cách mạng xanh”), một số ngƣời đã phản đối hƣớng phát triển mới này và ủng hộ hình thức canh tác hữu cơ nhƣ làm phân ủ, cải tiến luân canh cây trồng, hoặc trồng cây phân xanh. Khoảng cách giữa canh tác hữu cơ và nông nghiệp thông thƣờng vì thế càng lớn hơn. Do tác động tiêu cực của cách mạng xanh tới sức khỏe và môi trƣờng trong những năm 1970 và 1980 trở nên rõ ràng, nhận thức của cả nông dân và ngƣời tiêu dùng về vấn đề hữu cơ dần đƣợc tăng lên. Hệ thống canh tác tƣơng tự nhƣ “nông nghiệp vĩnh cửu” đã đƣợc mở rộng.
Chỉ cho đến những năm 1990, canh tác hữu cơ tăng lên mạnh mẽ. Số vụ bê bối về thực phẩm và thảm họa môi trƣờng đã làm tăng nhận thức của ngƣời tiêu dùng trong và ngoài nƣớc. Cùng thời gian đó, một loạt các cải tiến mới về kỹ thuật hữu cơ, đặc biệt là quản lý sâu hại theo phƣơng pháp sinh học và hệ thống canh tác hiệu quả hơn đã đƣợc phát triển. Tuy nhiên, nông nghiệp hữu cơ chỉ chiếm một phần nhỏ trong nền nông nghiệp thế giới.
Sự hỗ trợ từ phía nhà nƣớc cho các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật hoặc marketing trong canh tác hữu cơ vẫn còn rất thấp ở hầu hết các nƣớc. Mặc dù vậy, canh tác hữu cơ hiện nay đang hứa hẹn tốc độ tăng trƣởng nhanh trên toàn thế giới. Trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp theo hƣớng hữu cơ, nhiều tổ chức quốc tế ở các giai đoạn khác nhau đã đƣa ra các khái niệm khác nhau về nông nghiệp hữu cơ. Theo Codex Alimentarius, FAO/WTO, 2001: “Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống quản lý sản xuất toàn diện đƣợc hỗ trợ, tăng cƣờng gìn giữ bền vững hệ sinh 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thái, bao gồm các vòng tuần hoàn và chu kỳ sinh học trong đất.
Nông nghiệp hữu cơ dựa trên cơ sở sử dụng tối thiểu các đầu tƣ từ bên ngoài nhằm làm giảm ô nhiễm từ không khí, đất và nƣớc, chống sử dụng các chất tổng hợp nhƣ phân bón vô cơ, thuốc trừ sâu hóa học. Những ngƣời sản xuất, chế biến và lƣu thông các sản phẩm hữu cơ gắn bó với các tiêu chuẩn và chuẩn mực của sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Mục đích chính của nông nghiệp hữu cơ là tối ƣu hóa tính bền vững và sức sản xuất của các hệ thống với quan hệ chặt chẽ phụ thuộc lẫn nhau nhƣ đất trồng trọt, cây trồng, động vật và con ngƣời”[15]. Theo IFOAM, 2002: “Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống đồng bộ hƣớng tới thực hiện các quá trình với kết quả bảo đảm hệ sinh thái bền vững, thực phẩm an toàn, dinh dƣỡng tốt, nhân đạo với động vật và công bằng xã hội, không sử dụng các hóa chất nông nghiệp tổng hợp và các chất sinh trƣởng phi hữu cơ, tạo điều kiện cho sự chuyển hóa khép kín trong hệ canh tác, chỉ đƣợc sử dụng các nguồn hiện có trong nông trại và các vật tƣ theo tiêu chuẩn của quy trình sản xuất”[24].
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “nông nghiệp hữu cơ là hệ thống canh tác và chăn nuôi tự nhiên, không sử dụng hóa chất làm phân bón và thuốc trừ sâu, giúp giảm thiểu ô nhiễm, bảo đảm sức khỏe cho con ngƣời và vật nuôi”[23]. Nhìn chung, các khái niệm trên cho thấy nông nghiệp hữu cơ là một phƣơng thức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở sử dụng các chu trình sinh học có trong tự nhiên. Nông nghiệp hữu cơ không chỉ đơn thuần là nền nông nghiệp không có chất hóa học, mà nó còn hội tụ đầy đủ các khía cạnh sinh thái, xã hội và kinh tế bền vững. Điều đó có nghĩa rằng, nông nghiệp hữu cơ là phƣơng thức duy trì sự cân bằng sinh thái trong hệ thống canh tác và sử dụng nguồn tài nguyên vốn có theo cách bền vững với một sự chú ý đặc biệt về khía cạnh kinh tế – xã hội của sản xuất.
Tái tạo chu trình dinh dƣỡng, sử dụng tối ƣu nguồn tài nguyên sẵn có, đa dạng hóa là các khía cạnh quan trọng của nông nghiệp hữu cơ. Vai trò của nông nghiệp hữu cơ Theo tổ chức NNHC quốc tế (IFOAM): Vai trò NNHC, dù cho trong canh tác, chế biến, phân phối hay tiêu dùng là nhằm mục đích duy trì sức khỏe của hệ 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sinh thái và các sinh vật, từ các sinh vật có kích thƣớc nhỏ nhất trong đất đến con ngƣời. Có thể tóm tắt vai trò của NNHC nhƣ sau: 1. Đối với môi trƣờng Trong nhiều thập niên qua, nền nông nghiệp thế giới đã có những thay đổi mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật, cơ giới hoá, hoá học hoá.
Mặc dù sự thay đổi đó đã nâng cao đáng kể sản lƣợng lƣơng thực, thực phẩm, nhƣng nó cũng gây không ít vấn đề nhƣ ô nhiễm, xói mòn đất, ngộ độc, sự bột phát của các loài dịch hại, mà nguyên nhân là do việc sử dụng các chất hoá học đã làm phá vỡ cân bằng sinh thái. Để khắc phục tình trạng đó, một phong trào NNHC đang lan rộng trên thế giới, phong trào này sử dụng các biện pháp nông nghiệp mang tính sinh thái bền vững, dựa trên mối quan hệ tác động qua lại của các yếu tố đất đai, cây trồng, vật nuôi, con ngƣời, môi trƣờng sinh thái.