CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Khái niệm về nông nghiệp hữu cơ NNHC là hệ thống sản xuất nhằm duy trì sức khỏe của đất, hệ sinh thái và con người. Nó dựa trên các chu trình sinh học, đa dạng sinh học và các chu trình thích ứng với điều kiện địa phương hơn là sử dụng vật tư đầu vào với những ảnh hưởng bất lợi. Nông nghiệp hữu cơ bao gồm truyền thống, sự đổi mới và khoa học có lợi cho môi trường và thúc đẩy mối quan hệ công bằng và chất lượng cuộc sống tốt[Theo IFOAM ,1980].
Đó là hệ thống bắt đầu cân nhắc ảnh hưởng của môi trường và xã hội bằng việc hạn chế sử dụng những đầu vào hóa học như phân bón và thuốc trừ sâu hóa học, thuốc chữa bệnh gia súc, cây và con biến đổi gen, chất bảo quản, chất phụ gia và chất phóng xạ[17]. - Rau hữu cơ là sản phẩm của quá trình sản xuất theo nguyên tắc của nông nghiệp hữu cơ. Rau hữu cơ là loại rau canh tác trong điều kiện hoàn toàn tự nhiên (không sử dụng phân bón hóa học, không phun thuốc BVTV, không phun thuốc kích thích sinh trưởng, không sử dụng thuốc diệt cỏ, không sử dụng sản phẩm biến đổi gen)[30]. Sự khác nhau giữa phương thức sản xuất rau hữu cơ và rau an toàn Tiêu Rau hữu cơ Rau an toàn chí Đất - Được quy hoạch thành vùng và được Được quy hoạch thành vùng, trồng một vùng đệm thích hợp để bảo vệ có thể được cơ quan chức năng khỏi nguy cơ xâm nhiễm từ bên ngoài địa phương lấy mẫu xét - Đất trồng được xét nghiệm đảm bảo nghiệm không ô nhiễm bởi kim loại nặng và các hóa chất độc hại khác Nước Được xét nghiệm để đảm bảo nguồn Có thể được cơ quan chức nước đủ tiêu chuẩn sản xuất hữu cơ năng tại địa phương lấy mẫu xét nghiệm Dinh Không được phép sử dụng phân bón hóa Được sử dụng phân chuồng, dưỡng học, các chất kích thích sinh trưởng và phân vi sinh, phân bón lá các các sản phẩm biến đổi gen.
Chỉ sử dụng chất kích thích sinh trưởng và các vật tư đầu vào cho sản xuất hữu cơ các loại phân bón hóa học được phép và có kiểm soát Luan van 5 Tiêu Rau hữu cơ Rau an toàn chí Bảo vệ Không được phép sử dụng thuốc bảo vệ Được phép sử dụng thuốc từ thực vật thực vật hóa học, chủ yếu áp dụng quy sâu bệnh hóa chất có trong luật đấu tranh sinh học tự nhiên, các chế danh mục cho phép của bộ phẩm sinh học, chế phẩm thảo mộc để nông nghiệp với thời gian cách kiểm soát sâu bệnh ly nhất định Năng Thấp hơn hoặc bằng so với sản xuất Năng suất cao suất thông thường Chất Cây sinh trưởng phát triển tự nhiên, thời Bị cưỡng ép sinh trưởng phát lượng gian sinh trưởng dài hơn so với sản xuất triển nhanh để tăng nâng suất. thông thường nên tích lũy được nhiều Tích lũy được ít dinh dưỡng dinh dưỡng do thời gian sinh trưởng bị rút ngắn. Những nguyên tắc cơ bản để sản xuất nông nghiệp hữu cơ * Sức khỏe: NNHC cần phải duy trì và làm tăng sức khỏe của đất, thực vật, động vật, con người và hành tinh cùng với nhau chứ không tách rời. Nguyên tắc này nhấn mạnh rằng sức khỏe của cá thể và cộng đồng không thể tách rời khỏi sức khỏe của hệ sinh thái.
Đất khỏe sẽ tạo cho cây trồng khỏe và sẽ làm tăng sức khỏe của con người và động vật [17]. * Sinh thái: NNHC dựa vào hệ sinh thái sống động và chu trình tự nhiên của chúng, làm việc, tranh đua và duy trì chúng. Nguyên tắc này gắn NNHC sâu vào trong hệ sinh thái năng động. Nó cho thấy sản xuất phải dựa vào các tiến trình của sinh thái và sự tái sinh.
Để có được thức ăn và sức khỏe tốt phải thông qua sinh thái của môi trường sản xuất cụ thể. Ví dụ như đối với cây trồng thì cần có một môi trường đất sống động, đối với động vật nuôi cần có hệ sinh thái trang trại, đối với cá và các sinh vật biển là môi trường nước[17]. * Công bằng: NNHC cần xây dựng trên mối quan hệ đảm bảo công bằng cùng với sự quan tâm đến môi trường chung và những cơ hội sống cho tất cả các sinh vật.Sự công bằng được mô tả như là sự hợp tình hợp lý, sự tôn trọng, ngay thẳng và tận tình đối với con người và cả với những mối quan hệ của các đời sống Luan van 6 khác ở xung quanh. Nguyên tắc này nhấn mạnh rằng tất cả những gì có liên quan tới nông nghiệp hữu cơ cần đối xử trong mối quan hệ như con người đảm bảo công bằng tới tất cả các tầng lớp và các bên liên quan: nông nhân- công nhân- trí thức- nhà phân phối – thương nhân và người tiêu dùng[17].
* Quan tâm chăm sóc: NNHC cần được quản lý theo cách phòng ngừa và có trách nhiệm để bảo vệ môi trường, sức khỏe và hạnh phúc của các thế hệ hiện tại và tương lai. Đó là những quan tâm chính thức trong việc lựa chọn cách quản lý, phát triển và áp dụng công nghệ trong nông nghiệp hữu cơ. NNHC cần ngăn ngừa những khả năng rủi ro trước khi áp dụng công nghệ và không chấp nhận sử dụng những công nghệ không thể dự đoán được những hậu quả của nó như công nghệ gen chẳng hạn[17]. Tiêu chuẩn và Hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ: 1.
Hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ: a.Hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ với bên thứ 3: Hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ với bên thứ 3 là hình thức mà đơn vị sản xuất đã sản xuất tuân thủ đầy đủ theo yêu cầu của tiêu chuẩn sản xuất hữu cơ và đã được tổ chức chứng nhận đánh giá và công nhận, chứng nhận là sản phẩm đạt yêu cầu của sản phẩm hữu cơ. Đây là hình thức phù hợp với các cơ sở sản xuất lớn các doanh nghiệp. Hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ PGS: Hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ PGS là hệ thống đảm bảo cùng tham gia (Participatory Guarantee Systems – PGS) được tổ chức IFOAM (Liên đoàn Các phong trào nông nghiệp hữu cơ Quốc tế) công nhận. Đây là hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ của một tổ chức phi chính phủ, phù hợp với thực trạng sản xuất nhỏ lẻ như Việt Nam.
Hiện nay PGS đang được vận dụng ở hơn 50 nước trên thế giới. Hiện nay PGS Việt Nam đã được IFOAM công nhận là thành viên trong gia đình Hệ thống công nhận sản phẩm hữu cơ PGS thế giới từ năm 2013. Ở Việt Nam, có PGS đang vận hành ở Sóc Sơn (Hà Nội); Lương Sơn ( Hòa Bình) và Trác Văn (Hà Nam). Ngoài ra còn có các PGS Hội An, PGS Bến Tre, và đang hình thành PGS ở Tân Lạc (Hòa Bình).
Ngoài năm yếu tố cơ bản cấu thành Hệ thống PGS là sự tham gia, một tầm nhìn chung, tính minh Luan van 7 bạch, niềm tin, hợp tác ngang hàng, còn có các bên liên quan như người sản xuất, người tiêu dùng, thương nhân, nhà bán lẻ, các tổ chức NGO. Nhóm điều Người phối tiêu dùng LIÊN NHÓM - Các cơ quan địa phương (Hội nông dân, tổ chức phi chính phủ.) Người - Thương nhân sản xuất - Người tiêu dùng - Hợp tác xã. Nhóm sản xuất Hộ nông Kích cỡ mỗi hộp tỉ lệ thuận với mức độ chịu dân trách nhiệm trong việc cấp chứng nhận PGS Hình 1.Cấu trúc PGS áp dụng cho sản xuất hữu cơ Nguồn: Từ Thị Tuyết Nhung, 2012 1. Tiêu chuẩn áp dụng cho sản xuất hữu cơ: - Tiêu chuẩn IFOAM của Mỹ (US Department of Agriculture – National Organic Product), Liên minh châu Âu (EU Organic Farming – Ủy ban Châu Âu - Europe Commission) đã được một số doanh nghiệp Việt Nam áp dụng và được cấp chứng chỉ (ví dụ: Công ty chè Hùng Cường tại Hà Giang; Công ty Phú Viễn – Cà Mau…) - Trong nước, có Tiêu chuẩn ngành 10TCN 602-2006 cho sản xuất, chế biến nông nghiệp hữu cơ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hiện nay chỉ để tham khảo); TCVN số 11041:2015: Hướng dẫn sản xuất, chế biến, ghi nhãn và tiếp thi thực phẩm được sản xuất theo phương pháp hữu cơ, áp dụng cho sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi do Bộ KHCN ban hành.
Luan van 8 - Muốn trở thành nhà sản xuất nông nghiệp hữu cơ thì nông dân, doanh nghiệp phải thực hiện theo tiêu chuẩn đảm bảo cùng tham gia (Participatory Guarantee System - PGS) trong sản xuất hữu cơ như các tiêu chuẩn trong Hệ thống đảm bảo cùng tham gia PGS được Tổ chức Phát triển nông nghiệp châu Á - Đan Mạch (ADDA) sử dụng, các tiêu chuẩn đó đã nêu những gì làm được và không được làm trong canh tác hữu cơ, ví dụ như các tiêu chuẩn không được sử dụng hóa chất. Tiêu chuẩn trong sản xuất hữu cơ theo PGS được xây dựng dựa trên Bộ tiêu chuẩn về sản xuất và chế biến các sản phẩm hữu cơ (10TCN 602-2006) đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành ngày 30/12/2006 và tiêu chuẩn PGS của IFOAM. Hiện nay, tiêu chuẩn PGS hữu cơ là tiêu chuẩn nội địa đầu tiên của Việt Nam đã được IFOAM công nhận năm 2013 và được trình bày tóm tắt trong 24 tiêu chí cơ bản như sau: 1. Nguồn nước được sử dụng trong canh tác hữu cơ phải là nguồn nước sạch, không bị ô nhiễm (theo quy định trong tiêu chuẩn sản xuất rau an toàn của TCVN 5942-1995) 2.
Khu vực sản xuất hữu cơ phải được cách ly tốt khỏi các nguồn ô nhiễm như các nhà máy, khu sản xuất công nghiệp, khu vực đang xây dựng, các trục đường giao thông chính… 3. Cấm sử dụng tất cả các loại phân bón hóa học trong sản xuất hữu cơ. Cấm sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Cấm sử dụng các chất tổng hợp kích thích sinh trưởng.
Các thiết bị phun thuốc đã được sử dụng trong canh tác thông thường không được sử dụng trong canh tác hữu cơ 7. Các dụng cụ đã dùng trong canh tác thông thường phải được làm sạch trước khi đưa vào sử dụng trong canh tác hữu cơ. Nông dân phải duy trì việc ghi chép vào sổ tất cả vật tư đầu vào dùng trong canh tác hữu cơ. Không được phép sản xuất song song: Các cây trồng trong ruộng hữu cơ phải khác với các cây được trồng trong ruộng thông thường.
Nếu ruộng gần kề có sử dụng các chất bị cấm trong canh tác hữu cơ thì ruộng hữu cơ phải có một vùng đệm để ngăn cản sự xâm nhiễm của các chất hóa học từ ruộng bên cạnh.