MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, môi trường toàn cầu có nhiều biến đổi theo chiều kinh tế xã hội của nhiều nước, làm mất cân bằng sinh thái trên đất. Vì vậy vấn đề phát triển bền vững đang là vấn đề đặc biệt quan tâm đối với nhiều quốc gia và tổ chức, nhằm đảm bảo sự cân bằng hài hòa trong phát triển kinh tế - xã hội – môi trường đất nước ta đang trong thời kì hội nhập kinh tế toàn cầu, công cuộc công nghiệp - hóa hiện đại hóa đất nước đang trong thời kì đây mạnh với nhịp độ ngày càng cao phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Thế nhưng bên cạnh những thành tựu đạt được về mặt kinh tế thì nhưng vấn đề tiêu cực về môi trường do công cuộc công nghệp hóa cũng đáng kể.
Một lượng lớn tài nguyên phải được khai thác để phục vụ cho sản xuất của các khu công nghiệp ngày càng nhiều, đặc biệt là vấn nạn nước thải công nghiệp. Trong số các nguồn thải gây ô nhiễm môi trường nước mặt phải kể đến ngành công nghiệp sản xuất gang thép. Công ty cổ phần Gang Thép Thái Nguyên(TISCO), cái nôi của ngành công nghiệp luyện kim Việt Nam, tiền thân là công ty Gang Thép Thái Nguyên, được thành lập năm 1959, là khu công nghiệp đầu tiên tại Việt Nam có dây chuyền sản xuất liên hợp khép kín từ khai quặng đến luyện gang, luyện thép và cán thép. Trải qua hơn 50 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, đến nay lượng thép của công ty ngày càng cao, quy mô sản xuất ngày càng mở rộng.
Tuy nhiên, quá trình sản xuất công nghiệp của công ty cũng để lại những tác động tiêu cực đến môi trường xung quanh, trong đó có môi trường nước mặt của suối Cam Giá – thành phố Thái Nguyên. Đây là con suối nhận trực tiếp nguồn nước thải khu công nghiệp Gang Thép sau đó đổ ra sông Cầu. Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường là việc làm cần thiết và cấp bách nhưng phải đảm bảo duy trì tốc độ phát triển kinh tế… Xuất phát theo yêu cầu của thực 2 tiễn, được sự đồng ý của khoa môi trường trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Th.S Trần Thị Phả, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá ảnh hưởng của nướcthải khu công nghiệp Gang Thép đến chất lượng nước suối Cam Giá thành phố Thái Nguyên”.Mục đích của đề tài - Đánh giá mức độ ảnh hưởng của khu côn nghiệp Gang Thép tới chất lượng nước suối Cam Giá. - Đề xuất một số biện pháp khắc phục cải thiện chất lượng nước suối Cam Giá.Ý nghĩa của đề tài - Thời gian thực hiện: từ 20/02/2013 – 20/4/2014.
- Phạm vi nghiên cứu: khu vực dọc suối Cam Giá. * Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng những kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế. - Học được phương pháp nghiên cứu, cách nêu vấn đề và giải quyết vấn đề theo cách hiểu. - Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra kinh nghiệm phục vụ cho công tác sau này.
- Vận dụng và phát huy các kiến thức đã học tập và nghiên cứu rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu. *Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài trang bị cho em những kiến thức cơ bản về ô nhiễm môi trường nước, làm cơ sở cho đánh giá về tài nguyên nước mặt nói riêng và tài nguyên nước nói chung. - Đề tài giúp cho việc đánh giá ảnh hưởng của nguồn nước thải KCN Gang Thép tới chất lượng môi trường nước suối Cam Giá, từ đó đề xuất các biện pháp phù hợp cải thiện, nâng cao chất lượng nước suối Cam Giá.Yêu cầu của đề tài - Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt trên địa bàn suối Cam Giá. - Kết quả và số liệu đánh giá chính xác, trung thực, khách quan.
3 - Những kiến nghị đề xuất giải pháp có tính khả thi và phải phù hợp với thực trạng của địa phương. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Một số khái niệm ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nước.
* Khái niệm ô nhiễm môi trường: Theo Luật bảo vệ môi trường 2005 của nước CHXHCNVN thì “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”.Theo Trần Yêm và Trịnh Thị Thanh(1998) [16], “Ô nhiễm môi trường được hiểu là sự có mặt của các chất hoặc năng lượng với với khối lượng lớn trong môi trường mà môi trường khó chấp nhận”- trích Từ điển Oxford. Do đó, ô nhiễm môi trường được hiểu theo cách diễn đạt của giáo trình này là: “Sự hiện diện của các vật chất ở 3 dạng rắn, lỏng, khí và năng lượng có nguồn gốc là tự nhiên hoặc nhân tạo với một hàm lượng nào đólàm ảnh hưởng đến chất lượng nói chung hoặc chất lượng của từng thành phần môi trường nói riêng”. Ô nhiễm môi trường theo nguồn gốc có thể phân thành ô nhiễm môi trường do tự nhiên và ô nhiễm môi trường do nhân tạo.Ô nhiễm môi trường theo loại hình môi trường có thể phân thành ô nhiễm môi trường nước, ônhiễm môi trường không khí và ô nhiễm môi trường đất. *Ô nhiễm nước: Khái niệm về nước thải và nước ô nhiễm:Theo 2 tác giả TrầnYêm và Trịnh Thị Thanh (1998) [16] thì: Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng.
Ô nhiễm nước là sự thay đổi bất lợi môi trường nước, hoàn toàn hay đại bộ phận do các hoạt động khác nhau của con người tạo nên. Nguồn gốc gây ô nhiễm nước có thể là tự nhiên và có thể là nhân tạo. Có nhiều cách để phân loại về nước thải: Phân loại theo cách xác định nguồn thải: Có 2 nguồn gây ô nhiễm là nguồn gây ô nhiễm xác định (nguồn điểm) và nguồn gây ô nhiễm không xác định (nguồn không điểm). Nếu phân loại 5 theo tác nhân ô nhiễm thì gồm có dạng ô nhiễm cơ học (vật lý), ô nhiễm hóa học (vô cơ, hữu cơ), ô nhiễm vi sinh vật, ô nhiễm nhiệt và ô nhiễm phóng xạ.
Theo nguồn gốc phát sinh thì ô nhiễm nước do: Nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp), nước mưa chảy tràn. Cơ sở pháp lí Việc đánh giá chất lượng nước thải công nghiệp và nước mặt (sông suối) được thực hiện trên cơ sở quy định của các văn bản pháp lí sau. -Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005.Các văn bản dưới luật đã hướng dẫn cụ thể thực hiệnluật bảo vệ môi trường bao gồm: - Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường. sản xuất công nghiệp và cả chất thải sinh hoạt.
Ở Hoa Kì, các con sông và hồ ở phíaĐông và một số vùng khác cũng gặp tình trạng tương tự. Vùng Đại hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Enrie, Ontario đặc biệt nghiêm trọng. Ở các nước đang phát triển và các nước nghèo thì ô nhiễm nước và thiếu nước sạch là phổ biến. Có tới hơn 80% khối lượngnước ở các cống rãnh ở các khu dân cư và hơn 65% lượng nước thải ở các KCN thải trực tiếp ra đồng ruộng, sông hồ gây ô nhiễm, thường là ở Trung Quốc, các nước Trung cận Đông, châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á.Việc ô nhiễm môi trường nước đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người, mỗi năm có khoảng 3.578 triệu người chết do các bệnh liên quan đến nước.
Cũng theo báo cáo này, đã chỉ ra được thiệt hại môi trường trong hồ Peipsi –hồ nằm trên biên giới của nước Cộng hòa Estonia và Liên bang Nga. Sựô nhiễm hồ và phú dưỡng đã làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế xung quanh hồ và hoạt động khai thác cá trong hồ. Ở Trung Quốc, có đến khoảng 50.000 km các con sông lớn (theo FAO) bị ô nhiễm nặng, chủ yếu do nước thải công nghiệp, trong đó có 80% là không c òn khả năng khai thác cá do môi trường sống của chúng đã bị hủy hoại. Đây có thể coi như là kết quả của việc xả thải các chất độc hại từ các nhà máy công nghiệp trên thượng nguồn 6 như nhà máy giấy, nhà máy thuộc da, nhà máy sản xuất cán thép, nhà máy lọc dầu và nhà máy hóa chất…nước sông Hoàng Hà hiện đang chứa một hàm lượng rất cao các kim loại nặng và chất độc khác, làm cho chất lượng nước suy giảm tới mức không đạt tiêu chuẩn đối với nước dành cho mục đích thủy lợi.
Đoạn sông Hoàng Hà đi qua tỉnh Sơn Tây,do sử dụng nước tưới cho nông nghiệp nên kim loại nặng đã đi vào nông sản như hàm lượng Crôm và Chì đã quángưỡng cho phép trong lúa gạo, Cadimi quá ngưỡng trong bắp cải…Ở Brazil, Baixada Santista cũng là khu vực nổi tiếng thế giới về ô nhiễm có liên quan đến công nghiệp, cảng và các hoạt động đô thị. Các hoạt động khai thác mỏ và luyện kim đã cho kết quả là thải ra môi trường các chất độc hại có khả năng lan truyền theo chuỗi thức ăn như Chì, Thủy ngân, Niken… Không chỉ có vậy, các hoạt động xả thải côngnghiệp ở khu vực này cũng gây ra hiện tượng phú dưỡng (Elisabete S.Braga et al, 2004) [9].Trong ngành công nghiệp luyện kim, quá trình sản xuất bắt buộc phải sử dụng đến một lượngnước khá lớn. Để sản xuất 1 tấn thép cần 100-200 m3 nước/htức là cần trung bình 150m3/h. Khối lượng nước thải ra để sản xuất 1.000 tấn phôi thép/năm là 250-500m3/năm (vì có phần lớn lượng nước được sử dụng làm mát tái tuần hoàn).Trung bình mỗi giờ lượng nước bơm cho các hoạt động sản xuất thép như sau: Thiêu kết 0-20m3/tấnthiêu kết.
Bast lò: 50-80m3-80m3/ tấn gang. Máycán:20-80m3/tấncán Cốchóa:2-5m3/tấnthancốc Lò làm sạch khí: 2-5m3/1000m3khí (P.Theo tác giả O’Connell và các cộng sự(1987) [20], [21], ở Chicago những năm giữa thế kỷ 20, sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành công nghiệp thép trong khu vực Cahemet sau khi có sự chuyển giao, phát triển công nghệ đã khiến cho môi trường nơi này bị ảnh hưởng. Các nhà máy thép ở Nam Chicago, Đông Chicago và Gary tạo thành một cụm công nghiệp khá rộng lớn.Dọc theo bờ biển phía nam hồ Michigan cũng bao gồm các nhà máy 7 lọc dầu, hóa chất và chế tạo kim loại.