Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sông Cầu là trục thủy văn trọng yếu trong hệ thống sông Thái Bình, giữ vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc. Toàn bộ lưu vực sông Cầu có diện tích tự nhiên 6.030 km², tổng chiều dài hệ thống sông suối nhánh khoảng 1.600 km, dòng chính dài 288 km khởi nguồn từ dãy Phia-Bjooc (Phja Bjoóc) thuộc tỉnh Bắc Kạn, chảy qua các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh và đổ vào sông Thái Bình tại Phả Lại (Hải Dương). Tổng lượng dòng chảy mặt hàng năm của lưu vực đạt khoảng 4.200 km³, chịu sự điều tiết liên vùng của hồ Núi Cốc. Đoạn sông Cầu chảy qua địa bàn tỉnh Bắc Kạn dài 103 km qua 44 xã, phường, thị trấn; riêng đoạn chảy qua địa bàn thị xã Bắc Kạn dài khoảng 20 km với bề rộng lòng sông trung bình 40 m, lưu lượng nước bình quân năm đạt 73 m³/s, tổng lượng nước hàng năm ước đạt 798 triệu m³.

Thị xã Bắc Kạn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Bắc Kạn và được công nhận là đô thị loại III vào năm 2012. Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng cùng với việc mở rộng không gian dân cư, phát triển cơ sở hạ tầng, thương mại - dịch vụ và các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp đã làm gia tăng áp lực xả thải. Khả năng tự làm sạch và tiếp nhận chất ô nhiễm của sông Cầu đoạn chảy qua thị xã có xu hướng suy giảm rõ rệt. Trước thực trạng đó, khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Địa chính môi trường của tác giả Ngô Huyền My tập trung thực hiện đề tài nhằm nhận diện, đo lường các nguồn thải và đánh giá tác động của chúng đối với chất lượng môi trường nước mặt.

Khóa luận xác định ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Xác định được những hoạt động và các yếu tố gây ảnh hưởng đến chất lượng nước sông Cầu.
  2. Đánh giá chiều hướng ảnh hưởng và dự báo tình trạng ô nhiễm của đoạn sông chảy qua khu vực thị xã Bắc Kạn.
  3. Đưa ra các biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ, cải thiện chất lượng nguồn nước.

Yêu cầu nghiên cứu đặt ra là hệ thống số liệu, tài liệu điều tra thu thập phải đảm bảo độ tin cậy, khách quan, chính xác; đồng thời các giải pháp đề xuất phải phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số hoạt động kinh tế - xã hội có khả năng gây ô nhiễm nguồn nước sông Cầu trên địa bàn thị xã Bắc Kạn. Phạm vi nghiên cứu về không gian giới hạn trong lưu vực sông Cầu thuộc ranh giới hành chính thị xã Bắc Kạn. Phạm vi thời gian nghiên cứu và thực tập thực hiện từ tháng 8/2014 đến tháng 11/2014 tại Trung tâm Quan trắc môi trường tỉnh Bắc Kạn, kết hợp chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2013 - 2014.

Cơ sở lý thuyết, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa chuẩn tắc theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (Khoản 1, Khoản 6, Khoản 17 Điều 3) về môi trường, ô nhiễm môi trường, quan trắc môi trường; khái niệm tài nguyên nước (nước mặt, nước ngầm, nước khí quyển), ô nhiễm nước và quản lý môi trường. Các thông số kiểm soát chất lượng nước được phân loại cụ thể:

  • Nhóm thông số vật lý: Nhiệt độ, độ màu, độ đục (đo bằng đơn vị SiO₂/l, NTU, FTU), mùi vị, độ nhớt và độ dẫn điện.
  • Nhóm thông số hóa học: Độ pH, oxy hòa tan (DO), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD₅), nhu cầu oxy hóa học (COD), độ cứng (tính theo mg/l CaCO₃), kim loại nặng (Hg, Cd, Pb, As, Cr, Cu, Zn, Fe) và các ion dinh dưỡng (NO₃⁻, PO₄³⁻, SO₄²⁻).
  • Nhóm thông số sinh học: Tổng số vi khuẩn Coliform và khuẩn E.coli.

Khung pháp lý tham chiếu của đề tài bao gồm: Luật Bảo vệ môi trường 2014 (thông qua ngày 23/6/2014, hiệu lực từ 01/01/2015); Luật Tài nguyên nước 1998; các Nghị định số 179/1999/NĐ-CP, 80/2006/NĐ-CP, 21/2008/NĐ-CP, 117/2009/NĐ-CP; Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT, Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ban hành QCVN 08:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt) và QCVN 14:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt); Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập thông tin được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp khảo sát, điều tra thực địa: Tiến hành quan sát trực tiếp trạng thái cảm quan, màu sắc, độ đục tại các điểm quan trắc ven sông với tần suất 2 lần/tháng.
  • Phương pháp kế thừa số liệu thứ cấp: Tổng hợp báo cáo thống kê kinh tế - xã hội, báo cáo hiện trạng môi trường chuyên đề chất thải rắn và chuyên đề môi trường nước lưu vực sông Cầu của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn, niên giám thống kê thị xã năm 2013.
  • Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu quan trắc: Tiếp nhận số liệu phân tích mẫu nước mặt lấy ngày 03/10/2014 tại 6 vị trí quan trắc đặc trưng:
    • NMTX-1: Nước sông Cầu tại cầu Dương Quang.
    • NMTX-2: Nước sông Cầu tại cầu Bắc Kạn II.
    • NMTX-3: Nước sông Cầu tại trạm Khí tượng thủy văn Thác Giềng.
    • NMTX-4: Nước suối Nặm Cắt trước khi nhập lưu với sông Cầu.
    • NMTX-5: Nước suối Nông Thượng đoạn qua khu dân cư Quang Sơn, Đội Kỳ.
    • NMTX-6: Nước suối Pá Danh.
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp 40 hộ dân sinh sống trên địa bàn thị xã Bắc Kạn nhằm ghi nhận phản ánh của cộng đồng về mức độ suy thoái nguồn nước và tác động từ các cơ sở phát thải.
  • Phương pháp xử lý, tổng hợp số liệu: Sử dụng bảng biểu tính toán định lượng phát thải, so sánh đối chiếu giá trị nồng độ đo đạc với ngưỡng giới hạn quy chuẩn QCVN 08:2008/BTNMT.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần này trình bày tính cấp thiết của công tác bảo vệ nguồn nước trong bối cảnh phát triển kinh tế và đô thị hóa. Tác giả giới thiệu khái quát vị trí địa lý, quy mô hệ thống sông Cầu qua địa bàn tỉnh Bắc Kạn và thị xã Bắc Kạn; khẳng định vai trò cấp nước sản xuất, sinh hoạt của lưu vực; xác định cụ thể 3 mục tiêu, 2 yêu cầu cùng ý nghĩa học tập và thực tiễn của đề tài khóa luận.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa các cơ sở khoa học về tài nguyên nước, các tiêu chí đánh giá chất lượng nước mặt, văn bản pháp luật hiện hành và bức tranh tổng quan lưu vực sông Cầu. Lưu vực có hơn 400 doanh nghiệp nhà nước, 96 khu/cụm công nghiệp, 230 làng nghề và khoảng 1.500 cơ sở y tế; hàng năm tiếp nhận khoảng 40 triệu m³ chất thải lỏng. Vào mùa khô, lưu vực thiếu hụt khoảng 36 triệu m³ nước phục vụ nông nghiệp. Tài liệu phân tích thực trạng phát sinh nước thải công nghiệp từ hoạt động khai khoáng, luyện kim tại Thái Nguyên, Bắc Kạn; mức tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật trung bình 3 kg/ha/năm; rác thải y tế tại một số tỉnh như Thái Nguyên (350 kg/ngày), Bắc Ninh (438 kg/ngày), Hải Dương (613 kg/ngày); và tỷ lệ thu gom chất thải rắn đô thị chỉ đạt 60 - 70%.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu là các nguồn thải trên địa bàn; phạm vi không gian tại thị xã Bắc Kạn; địa điểm thực hiện tại Trung tâm Quan trắc môi trường tỉnh Bắc Kạn trong thời gian từ tháng 8/2014 đến tháng 11/2014. Tác giả thuyết minh chi tiết 5 nội dung nghiên cứu cùng quy trình kỹ thuật của các phương pháp: Khảo sát thực địa, thu thập số liệu thứ cấp, kế thừa mạng lưới 6 trạm quan trắc chất lượng nước, điều tra xã hội học với cỡ mẫu 40 phiếu và phương pháp thống kê so sánh đối chuẩn.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung phân tích đặc điểm địa bàn và định lượng các nguồn gây ô nhiễm tác động trực tiếp lên sông Cầu:

  1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và kinh tế - xã hội: Thị xã Bắc Kạn nằm từ 22°08'05" đến 22°09'23" vĩ độ Bắc và 105°49'30" đến 105°51'15" kinh độ Đông, diện tích tự nhiên 13.688 ha. Đất nông nghiệp chiếm 82,28% (trong đó đất lâm nghiệp chiếm 72,66% với 9.943,81 ha, đất lúa chiếm 4,94% với 676,06 ha); đất phi nông nghiệp chiếm 8,73% (đất ở chỉ chiếm 2,88% với 394,26 ha); đất chưa sử dụng là 1.231,01 ha (8,99%). Dân số thường trú năm 2013 là 38.943 người, dân số quy đổi 30.020 người, tổng dân số đạt 68.963 người; mật độ dân số nội thị đạt 9.466 người/km². Thủy văn sông Cầu phân chia hai mùa rõ rệt: Mùa kiệt kéo dài 7 - 8 tháng, lưu lượng dòng chảy nhỏ nhất trung bình 2,5 m³/s, trung bình mùa kiệt 5,22 m³/s; mùa lũ lưu lượng trung bình 550 m³/s; lưu lượng trung bình năm đạt 17,3 m³/s.

  2. Áp lực từ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Toàn thị xã có trên 230 cơ sở kinh doanh, trong đó có 9 cơ sở khai thác và chế biến công nghiệp chủ lực.

TT Tên cơ sở sản xuất Sản phẩm chính Đơn vị tính Công suất thiết kế
1 Công ty CP Lâm sản Bắc Kạn Giấy đế / Trúc Tấn / Sản phẩm 600 / 8.004
2 Cơ sở sản xuất bia Bắc Á Bia Lít 60.000
3 Nhà máy rau quả và rượu Bó Nặm Necta mơ / Rượu Bó Nặm Lít 730.000 / 1.000
4 Nhà máy xi măng Bắc Kạn - DATC Xi măng Tấn 66.000
5 Công ty May công nghiệp Bắc Kạn Quần áo Chiếc 540.000
6 Sản xuất gạch ngói Huyền Tụng Gạch, ngói 10³ viên 6.000
7 Mỏ khai thác đá vôi Suối Viền Đá vôi m³ 100.000
8 Mỏ khai thác đá vôi Cốc Ngận Đá vôi m³ 85.000
9 Mỏ khai thác đá vôi K15 Đá vôi m³ 80.000

Đánh giá thực tế cho thấy Nhà máy xi măng Bắc Kạn sử dụng dây chuyền công nghệ lò đứng cũ của Trung Quốc từ thập niên 1990 tiêu tốn năng lượng; Công ty CP Lâm sản Bắc Kạn từng phát sinh khoảng 252 m³ nước thải và 787 kg chất thải mỗi ngày khi sản xuất giấy đế. Mặc dù tại thời điểm khảo sát cả hai đơn vị này đã tạm dừng hoạt động, các cơ sở gia công cơ khí, sửa chữa ô tô, sản xuất bún bánh vẫn xả nước thải trực tiếp ra môi trường.

  1. Áp lực từ sản xuất nông nghiệp: Khối lượng phân bón hóa học sử dụng gia tăng liên tục từ 616.748 kg (năm 2010) lên 622.628 kg (2011), 643.621 kg (2012) và đạt 657.512 kg (2013). Tỷ lệ thất thoát phân bón vào môi trường đất, nước ước tính khoảng 50%. Về chăn nuôi, tổng đàn năm 2014 gồm 1.760 con trâu, 440 con bò, 54 con ngựa, 22.000 con lợn và 110.000 con gia cầm. Áp dụng hệ số phát thải của Cục Chăn nuôi, tổng lượng chất thải rắn chăn nuôi phát sinh là 134.840 kg/ngày (tương đương hơn 134,8 tấn/ngày), trong đó chỉ khoảng 50% được xử lý qua hầm biogas hoặc ủ phân, phần còn lại thải trực tiếp ra hệ thống mương máng, suối nhánh.
STT Loại vật nuôi Số lượng (con) Hệ số chất thải rắn (kg/con/ngày) Lượng thải phát sinh (kg/ngày)
1 Trâu 1.760 15 26.400
2 Bò 440 10 4.400
3 Ngựa 54 10 540
4 Lợn 22.000 2 44.000
5 Gia cầm 110.000 0,05 5.500
Tổng 134.840
  1. Áp lực từ sinh hoạt dân cư và dịch vụ: Tỷ lệ dân số được cấp nước sạch chỉ đạt 65,9% (chủ yếu tập trung ở 4 phường nội thị). Định mức sử dụng nước sạch trung bình đạt 0,128 m³/người/ngày; hệ số phát sinh nước thải sinh hoạt trung bình là 0,089 m³/người/ngày. Tổng lượng nước thải sinh hoạt phát sinh toàn thị xã ước tính đạt 3.466 m³/ngày. Tỷ lệ phát sinh rác thải sinh hoạt trung bình là 0,48 kg/người/ngày, đưa tổng khối lượng rác toàn thị xã lên 18,9 tấn/ngày (trong đó hộ gia đình chiếm 85,5%, khu công cộng chiếm 8,5%, khu thương mại 4,3%, công sở và trường học 1,7%). Hoạt động thu gom rác mới chỉ đáp ứng được hơn 50% tại 4 phường nội thị, trong khi các xã ngoại thị (Dương Quang, Nông Thượng, Xuất Hóa, Huyền Tụng) chưa có hệ thống thu gom đạt chuẩn.

  2. Các nguồn thải điểm trực tiếp và bãi rác: Khóa luận thống kê 8 khu dân cư xả trực tiếp nước thải chưa qua xử lý vào các lưu vực phụ lưu: Suối Nông Thượng tiếp nhận nước thải tổ 4, 5, 6, 8, 15 (phường Sông Cầu) và tổ 8, 9 (phường Phùng Chí Kiên); suối Chí Kiên tiếp nhận từ tổ 5 (phường Đức Xuân) và tổ 2 (phường Sông Cầu); suối Thị Xã tiếp nhận từ phường Đức Xuân; suối Pá Danh nhận từ tổ 10 (phường Minh Khai); suối Nặm Cắt nhận từ xã Dương Quang; suối Viền nhận từ xã Xuất Hóa; sông Lạnh nhận từ thôn Phặc Tràng (Dương Quang); dòng chính sông Cầu tiếp nhận trực tiếp từ tổ 1a, 1b (phường Đức Xuân). Đặc biệt, bãi rác Khuổi Mật không có công trình chống thấm đáy và trạm xử lý nước rỉ rác, nằm trong danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg.

  3. Kết quả quan trắc chất lượng nước và điều tra cộng đồng: Kết quả đo đạc các chỉ tiêu BOD₅, COD, TSS ngày 03/10/2014 tại 6 điểm lấy mẫu và tổng hợp 40 phiếu phỏng vấn người dân cho thấy nguồn nước mặt sông Cầu và các suối nội thị (đặc biệt suối Pá Danh, suối Nông Thượng) có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ và chất rắn lơ lửng cục bộ, xuất phát từ việc nước thải sinh hoạt và chăn nuôi đổ thẳng ra dòng chảy.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tác giả tóm tắt toàn bộ hiện trạng ô nhiễm, khẳng định các nguồn thải sinh hoạt, chăn nuôi và bãi rác lộ thiên là nguyên nhân chi phối làm suy giảm chất lượng nước sông Cầu đoạn qua thị xã; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp và các kiến nghị lên cơ quan quản lý nhà nước.

Kết quả và đóng góp

Văn bản khóa luận mang lại các kết quả định lượng cụ thể:

  • Thống kê toàn diện cơ cấu sử dụng đất và dân số thị xã Bắc Kạn năm 2013 với 13.688 ha diện tích tự nhiên, dân số thường trú 38.943 người và mật độ nội thị 9.466 người/km².
  • Lập danh mục chi tiết 9 cơ sở công nghiệp chủ lực, công suất thiết kế, công nghệ vận hành và hiện trạng phát thải tại địa bàn.
  • Định lượng hóa tải lượng phân bón hóa học tiêu thụ tăng từ 616.748 kg (năm 2010) lên 657.512 kg (năm 2013) cùng tỷ lệ thất thoát khoảng 50%.
  • Xác định lượng chất thải rắn chăn nuôi phát sinh năm 2014 là 134.840 kg/ngày từ tổng đàn 24.254 gia súc và 110.000 gia cầm, trong đó khoảng 50% thải trực tiếp không qua xử lý.
  • Ước tính lượng nước thải sinh hoạt đô thị đạt 3.466 m³/ngày (định mức phát sinh 0,089 m³/người/ngày) và khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh là 18,9 tấn/ngày (0,48 kg/người/ngày), chỉ có trên 50% được thu gom tại 4 phường nội thị.
  • Xác lập bản đồ các nguồn thải điểm với 8 vị trí xả trực tiếp của các khu dân cư vào hệ thống sông suối nội thị và nhận diện bãi rác Khuổi Mật là điểm nóng ô nhiễm theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg.

Các giải pháp tác giả đề xuất được phân định thành 2 nhóm:

  • Nhóm biện pháp quản lý: Tăng cường hiệu lực thanh tra, giám sát môi trường định kỳ đối với các cơ sở sản xuất, chế biến; quy hoạch đồng bộ hạ tầng thoát nước và mở rộng mạng lưới thu gom rác thải sinh hoạt ra 4 xã ngoại thị; thực hiện di dời hoặc cải tạo bãi rác Khuổi Mật theo Quyết định 64; đẩy mạnh tuyên truyền cộng đồng về vệ sinh chuồng trại chăn nuôi, hạn chế sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật.
  • Nhóm biện pháp kỹ thuật: Đầu tư xây dựng trạm xử lý nước rỉ rác tại bãi chôn lấp; xây dựng hệ thống xử lý nước thải y tế đạt chuẩn tại các bệnh viện; phổ biến kỹ thuật xây dựng hầm biogas, ủ phân compost cho các hộ chăn nuôi quy mô gia đình; từng bước đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tập trung trước khi xả ra sông Cầu.

Đóng góp tự nêu của đề tài là việc kết nối dữ liệu thứ cấp từ cơ quan quản lý chuyên trách (Trung tâm Quan trắc môi trường) với công tác điều tra thực địa sơ cấp, cung cấp bức tranh chi tiết về các nguồn gây suy thoái chất lượng nước sông Cầu đoạn thượng lưu tại một đô thị miền núi đang trong quá trình nâng cấp hành chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện được ghi nhận trong văn bản:

  • Thời gian nghiên cứu ngắn (từ tháng 8/2014 đến tháng 11/2014), đợt quan trắc phân tích mẫu nước mặt tập trung vào ngày 03/10/2014, chưa phản ánh được sự biến động đầy đủ về chất lượng nước giữa hai mùa thủy văn tương phản (mùa lũ lưu lượng 550 m³/s so với mùa kiệt 5,22 m³/s).
  • Quy mô điều tra xã hội học bằng bảng hỏi dừng lại ở 40 phiếu phỏng vấn, giới hạn mức độ đại diện cho toàn bộ cộng đồng dân cư thị xã.
  • Chưa tiến hành đo đạc lưu lượng và nồng độ chất ô nhiễm thực tế tại từng miệng cống xả thải phân tán của hơn 230 cơ sở sản xuất, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ nhỏ lẻ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng mạng lưới quan trắc theo chuỗi thời gian liên tục cả mùa mưa và mùa khô; tăng số lượng mẫu khảo sát cộng đồng; đồng thời tiến hành kiểm toán môi trường chi tiết đối với tải lượng xả thải của từng phân khu đô thị và bãi chôn lấp chất thải rắn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Địa chính môi trường, Quản lý tài nguyên, Khoa học môi trường và Quản lý đô thị khi thực hiện đồ án hoặc nghiên cứu chuyên đề về đánh giá tải lượng ô nhiễm nguồn nước mặt khu vực miền núi.

Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật là quy trình ước tính tải lượng phát thải từ hoạt động chăn nuôi dựa trên hệ số của Cục Chăn nuôi, công thức tính toán lượng nước thải và chất thải rắn sinh hoạt theo hệ số dân số quy đổi, cùng danh mục định vị 8 khu dân cư xả thải trực tiếp vào các suối nhánh phụ lưu sông Cầu. Dữ liệu này cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới thoát nước và bảo vệ môi trường lưu vực cho các cơ quan quản lý tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Đoạn sông Cầu chảy qua thị xã Bắc Kạn có đặc điểm hình thái và thủy văn như thế nào?
Đoạn sông Cầu qua thị xã Bắc Kạn dài khoảng 20 km, bề rộng trung bình 40 m. Thủy văn sông dao động theo mùa: Mùa kiệt kéo dài 7 - 8 tháng với lưu lượng dòng chảy nhỏ nhất trung bình là 2,5 m³/s, trung bình mùa kiệt là 5,22 m³/s; mùa lũ lưu lượng trung bình đạt 550 m³/s; lưu lượng trung bình năm đạt 17,3 m³/s và tổng lượng nước hàng năm khoảng 798 triệu m³.

2. Tổng lượng chất thải rắn chăn nuôi phát sinh trên địa bàn thị xã Bắc Kạn năm 2014 được xác định là bao nhiêu?
Dựa trên hệ số thực nghiệm của Cục Chăn nuôi, tổng lượng chất thải rắn chăn nuôi phát sinh đạt 134.840 kg/ngày (khoảng 134,8 tấn/ngày) từ 1.760 con trâu, 440 con bò, 54 con ngựa, 22.000 con lợn và 110.000 con gia cầm. Trong đó, chỉ khoảng 50% lượng phân thải được xử lý (qua biogas, ủ phân), lượng còn lại xả trực tiếp ra môi trường.

3. Khối lượng chất thải rắn và nước thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thị xã Bắc Kạn năm 2013 là bao nhiêu?
Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trung bình 0,48 kg/người/ngày, tương đương khoảng 18,9 tấn/ngày (18.923,3 kg/ngày), với nguồn thải chính từ hộ gia đình chiếm 85,5%. Lượng nước thải sinh hoạt trung bình là 0,089 m³/người/ngày, tương ứng tổng lưu lượng phát sinh đạt 3.466 m³/ngày. Hoạt động thu gom rác chỉ đáp ứng trên 50% tại 4 phường nội thị, còn các xã ngoại thị hầu như chưa có dịch vụ thu gom đạt chuẩn.

4. Dây chuyền công nghệ nào của các cơ sở công nghiệp trên địa bàn được ghi nhận là lạc hậu và gây ô nhiễm?
Văn bản chỉ rõ Nhà máy xi măng Bắc Kạn sử dụng dây chuyền sản xuất công nghệ lò đứng nhập khẩu từ Trung Quốc từ những năm 1990 tiêu tốn nhiều năng lượng và phát thải lớn; Công ty CP Lâm sản Bắc Kạn sản xuất giấy đế tiêu tốn nguyên liệu, từng phát thải khoảng 252 m³ nước thải và 787 kg chất thải mỗi ngày bằng đường ống dẫn thẳng ra sông mà không qua xử lý (tuy nhiên tại thời điểm khóa luận khảo sát năm 2014, cả hai đơn vị này đều đang tạm ngừng hoạt động).

5. Điểm nóng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nào trên địa bàn thị xã Bắc Kạn nằm trong danh mục xử lý của Chính phủ?
Đó là bãi rác Khuổi Mật (xã Huyền Tụng), cơ sở nằm trong danh sách các điểm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ do không có hệ thống xử lý nước rỉ rác và công trình ngăn dòng nước mưa chảy tràn, trực tiếp đe dọa đến chất lượng nước ngầm và nguồn nước mặt sông suối trong khu vực.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Ngô Huyền My đã làm rõ hiện trạng và định lượng hóa các nguồn thải chính ảnh hưởng đến sông Cầu đoạn qua thị xã Bắc Kạn năm 2014, bao gồm 3.466 m³/ngày nước thải sinh hoạt, 18,9 tấn/ngày rác thải, hơn 134,8 tấn/ngày chất thải rắn chăn nuôi cùng các điểm xả thải trực tiếp chưa qua xử lý. Dù còn hạn chế về tần suất lấy mẫu quan trắc theo mùa thủy văn, đề tài đã phản ánh trung thực áp lực môi trường của một đô thị miền núi đang phát triển, cung cấp luận cứ thực tiễn cho công tác quy hoạch thoát nước, quản lý chất thải và cải thiện chất lượng nước mặt lưu vực sông Cầu.