MỞ ĐẦU Hiện nay, cây có múi nói chung, cây cam quýt nói riêng đƣợc trồng tập trung chủ yếu ở 7 vùng sản xuất chính bao gồm đồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Trong giai đoạn từ 2000-2017, diện tích trồng cam quýt trong cả nƣớc có xu hƣớng tăng qua các năm, trong đó các tỉnh miền núi phía Bắc là nơi đang mở rộng nhanh về diện tích nhiều nhất. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (tính đến cuối năm 2017) [2], tổng diện tích trồng cây cam quýt tại Việt Nam đạt 221,6 nghìn ha, tăng gấp 3 lần so với năm 2014 (75,6 nghìn ha); về sản lƣợng đạt 1.284,4 nghìn tấn tƣơng đƣơng với mức thu nhập ƣớc đạt hàng trăm tỷ đồng. Khu vực Trung du miền núi phía Bắc đứng thứ 2 cả nƣớc về diện tích và sản lƣợng trồng cây cam quýt, trong đó phải kể đến tỉnh Tuyên Quang, hiện đứng thứ 2 cả nƣớc về diện tích, đứng thứ nhất về sản lƣợng (tổng diện tích trồng cam trên 7.000 ha, sản lƣợng đạt 104.
Đây đƣợc coi là đóng góp chính trong sự phát triển của nền kinh tế địa phƣơng. Tại vùng Tây Bắc đang có xu hƣớng chuyển đổi các vƣờn tạp, vƣờn vải già cỗi sang trồng cam, đứng trƣớc việc mở rộng về diện tích, cũng nhƣ tăng nhanh về sản lƣợng là điều đáng mừng, tuy nhiên cũng đi cùng với những bất cập. Do đặc điểm địa hình nổi bật tại khu vực là địa hình đồi núi, có độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh nên rất dễ phải đối mặt với hiện tƣợng xói mòn, rửa trôi. Điển hình là khu vực canh tác cam tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang có địa hình phức tạp, hầu hết diện tích đất tự nhiên là đồi núi thấp, độ dốc lớn, độ cao trung bình 500 - 600 m.
Điều này ảnh hƣởng không nhỏ đến giai đoạn kiến thiết của cây cam quýt. Đặc điểm cây cam là loại cây ăn quả dài ngày. Trải qua 2 giai đoạn cơ bản trong 1 chu kì, đó là giai đoạn kiến thiết cơ bản (kéo dài 4 năm) và tiếp đến là giai đoạn sản xuất kinh doanh (từ 5 đến 15 năm). Trong đó, đặc biệt là giai đoạn kiến thiết cơ bản rất nhạy cảm với xói mòn rửa trôi.
Do phải đối mặt với nguy cơ xói mòn, rửa trôi dinh dƣỡng, ngƣời dân có xu hƣớng lạm dụng phân bón hóa học để bổ sung dinh dƣỡng cho đất. Cùng với đó là biện pháp quản lý cỏ dại chƣa hợp lý, chủ yếu là sử dụng thuốc diệt cỏ. Điều này ảnh hƣởng rất lớn đến tính chất đất. Đất bị suy thoái nghiêm trọng trở nên chai cứng, trơ trọi, không có lớp thực vật che phủ nên không còn khả năng giữ lại độ ẩm và các chất dinh dƣỡng.
Ngoài ra việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật cũng làm giảm tính đa dạng của hệ sinh thái đất, điều này ảnh hƣởng nhiều đến quá trình sinh địa hóa. Nhằm mục đích khắc phục tình trạng trên, nghiên cứu tác dụng từ cỏ dại cho thấy, chúng rất hữu ích trong việc bảo vệ đất, chống xói mòn rửa trôi vào mùa mƣa, bảo vệ độ ẩm của đất vào mùa khô. Ngoài ra, theo các nghiên cứu thì một vài loài cỏ dại cũng có khả năng tích lũy chất dinh dƣỡng. Tuy là hình thức cạnh tranh dinh dƣỡng nhƣng nếu có biện pháp quản lý một cách khoa học sẽ giúp hoàn trả lại dinh 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dƣỡng cho cây trồng.
Hệ rễ của cỏ đóng vai trò là không gian sống và cung cấp dinh dƣỡng quan trọng cho sự phát triển của khu hệ sinh vật đất. Hệ rễ của một số loài cỏ dại có tác dụng cố định C đất, cố định N, chuyển hóa phốt pho khó tan,. Từ đó, có thể thay đổi lƣợng phân hữu cơ bổ sung vào đất, giúp giảm tác động của hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón hóa học đến hệ sinh thái, rất phù hợp với địa hình canh tác miền núi. Tuy nhiên, hiện nay chƣa có một nghiên cứu cụ thể nào đánh giá về tác dụng của việc quản lý cỏ dại hợp lý trong việc cải thiện chất lƣợng đất trồng cam tại khu vực huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đƣợc báo cáo.
Trên cơ sở đó, đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của một số biện pháp quản lý cỏ dại đến chất lượng đất trồng cam ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang” đƣợc đặt ra nhằm cung cấp cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn cho việc cải tạo, bảo vệ và phục hồi chất lƣợng đất trồng cam tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Đồng thời, cũng mở ra hƣớng canh tác mới hiệu quả, bền vững đối với cây cam nói riêng, cây ăn quả nói chung. Từ đó, góp phần đảm bảo ổn định năng suất, chất lƣợng sản phẩm và lợi ích kinh tế xã hội. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây cam 1. Nguồn gốc và phân loại cây cam Nguồn gốc Cam có tên khoa học là Citrus sinensis Osbeck thuộc họ Rutaceae, chi Citrus và loài sinenis. Qua các kết quả nghiên cứu, có rất nhiều ý kiến đánh giá về nguồn gốc của cây cam.
Cây có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Á. Theo Giucopx thì cam chanh có nguồn gốc từ Trung Quốc, vì hiện nay Trung Quốc có nhiều giống cam chanh ngon, tốt. Còn theo các tác giả Casin (1984) Cameron và Soost (1979) thì nguồn gốc cam quýt bao gồm Miền Đông Ấn, Nam Trung Quốc, Bắc Việt Nam, Thái Lan giữa 15-250 vĩ độ Bắc. Nhiều tác giả khác cho rằng nguồn gốc cây cam ở Miền Nam Việt Nam, do Việt Nam từ Bắc tới Nam địa phƣơng nào cũng trồng cam quýt với rất nhiều giống, dạng cùng các tên địa phƣơng khác nhau mà không nơi nào trên thế giới có nhƣ cam Sành Bố Hạ, cam Sành Hàm Yên, cam Sen Yên Bái, cam Xã Đoài, cam Sông Con,.
Các cây trong chi họ Citrus là cây có tính thích ứng mạnh mẽ với mọi điều kiện sinh thái Việt Nam. Nhƣ vậy, qua nhiều công trình nghiên cứu, các tác giả đều có điểm chung đánh giá nguồn gốc cam là ở Đông Nam Á, kể cả lục địa hay bán đảo, quần đảo. Từ đây mà con ngƣời đã tác động theo nhiều phƣơng thức để tạo tính đa dạng, phong phú của cam quýt trồng hiện nay. Phân loại Một số giống cam đƣợc trồng phổ biến tại Việt Nam.
Cam Sành: Là giống quýt (King mandarin), dân ta quen gọi là cam, tuỳ vùng trồng lâu đời mà có các tên gọi nhƣ cam sành Bố Hạ, cam sành Hà Giang - Tuyên Quang [3]. Cam Xã Đoài: Nguồn gốc từ vùng Xã Đoài, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Cây cao trung bình, tán lá hơi xoè, thích nghi rộng. Năng suất cao, khối lƣợng quả trung bình 200 - 250 g/quả [7].
Cam Valencia: Nhập vào Việt Nam từ năm 1971. Quả to hơn cam Hamlin, trung bình 250 g/quả. Khi chín vỏ quả có màu vàng, ruột màu vàng da cam. Chín muộn vào dịp Tết âm lịch [7].
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cam HamLin: Là giống của Mỹ, (Hamlin là tên ông chủ vƣờn ở Mỹ), đƣợc đƣa vào Việt Nam từ năm 1971 thông qua CuBa. Hamlin là giống chín sớm vào tháng 9 - 10, vỏ quả mỏng, khối lƣợng quả trung bình 200 g/quả [7]. Cam Sông Con: Nguồn gốc chọn từ cây gieo hạt ở Nông trƣờng Sông Con, Nghệ An. Cây cao trung bình, tán gọn, không có gai trên cành, thích nghi rộng.
Năng suất trung bình, khối lƣợng quả trung bình 200 - 250 g/quả [7]. Cam Vân Du: Đƣợc chọn lọc từ những cây gieo hạt của giống cam Sunkist ở Trại nghiên cứu cam Vân Du (Thanh Hoá). Cây cao trung bình, tán gọn có gai trên cành, thích nghi rộng. Năng suất cao, khối lƣợng quả trung bình 180 - 200 g/quả [7].
Giá trị dinh dưỡng và kinh tế của cây cam 1. Giá trị dinh dưỡng Cam là loại trái cây giàu giá trị dinh dƣỡng, đƣợc con ngƣời sử dụng phổ biến hàng ngày trong mục đích giải khát hay bồi bổ sức khỏe. Nó có giá trị trong Đông và Tây y tham gia vào nhiều vị thuốc cổ truyền và có các công dụng: kích thích hoạt động của ruột: nhuận tràng, lợi tiểu, có thể giảm huyết áp, hạ nhiệt và tăng tính đề kháng của cơ thể, vỏ quả thƣờng đƣợc dùng để trị ho nhƣ vỏ quýt, vỏ quất (trần bì), trong vỏ quả có nhiều dầu thơm vừa có tính kích thích, vừa có chất sát trùng. Theo báo dinh dƣỡng trẻ em: ngoài vitamin C có tác dụng tăng chất đề kháng và tăng sức hấp thụ, nƣớc cam còn chứa nhiều canxi hơn là các sản phẩm từ sữa.
Chất canxi tập trung nhiều trong tép cam và vỏ cam. Khi pha nƣớc cam, một phần lớn canxi sẽ tiết ra hoà cùng nƣớc cam cung cấp cho cơ thể khi ta sử dụng. Vì thế chúng ta nên dùng nƣớc cam hàng ngày, đó là cách tốt nhất giúp cơ thể giải khát và làm việc tốt hơn. Hàm lƣợng dinh dƣỡng trong cam đƣợc trình bày ở bảng 1.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Giá trị dinh dƣỡng trong 100 g cam quả tƣơi Thành phần dinh dƣỡng Đơn vị Giá trị trong 100 gam Nƣớc g 82,3 Năng lƣợng kcal 63 Protein g 1,3 Chất béo g 0,3 Carbohydrate g 15,5 Chất xơ g 4,5 Canxi, Ca mg 70,0 Sắt, Fe mg 0.8 Magiê, Mg mg 14,0 Photpho, P mg 22,0 Kali, K mg 196,0 Natri, Na mg 2,0 Kẽm, Zn mg 0,11 Vitamin C, tổng axit ascobic mg 71,0 Thiamin mg 0,1 Riboflavin mg 0,05 Niacin mg 0,50 Vitamin B-6 mg 0,093 Folate, DFE µg 30,0 Vitamin A, RAE µg 13,0 Vitamin A, IU IU 250,0 (Nguồn: USDA National Nutrient Database for Standard Reference) [59] 1. Giá trị kinh tế của cây cam Giá trị kinh tế của cây cam là cây ăn quả có múi thuộc loại lâu năm, nhanh thu hoạch. Nhiều cây có thể cho thu hoạch ngay từ năm thứ 2 sau khi trồng.
Ở Việt Nam, 1 ha cam ở thời kỳ 8 tuổi, năng suất trung bình có thể đạt 16 tấn hoặc thậm chí nhiều hơn thế nữa, với giá bán cam hiện nay, ngƣời trồng cam có thể thu nhập lên tới 200 triệu đồng/ha/năm. Trồng cam ở Cao Phong nói riêng đã góp phần đánh kể trong phát triển kinh tế xã hội, giải quyết nhu cầu việc làm, tăng thu nhập và cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phƣơng.