CHƯƠNG 1: CUỘC VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ TRONG MƯỜI NĂM ĐẦU CỦA THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986 – 1996) 1. Đảng với cuộc vận động phụ nữ từ năm 1986 đến năm 1991 1. Điều kiện lịch sử và chủ trương của Đảng Tình hình thế giới Những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vẫn diễn ra gay gắt, quyết liệt dưới nhiều hình thức mới. Hệ thống chủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng, nhất là cơ chế kế hoạch hoá tập trung trong quản lý kinh tế đã bộc lộ những khuyết điểm.
Các nước xã hội chủ nghĩa nhận thấy mô hình quản lý đó thiếu tính năng động, làm cho nền kinh tế thiếu động lực để phát triển và xã hội ngày càng khủng hoảng trầm trọng. Đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ, dẫn đến những biến đổi cơ bản nền chính trị thế giới và quan hệ quốc tế. Trật tự thế giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai trên cơ sở hai khối đối lập do Liên Xô và Mỹ đứng đầu (trật tự hai cực) tan rã, trật tự thế giới mới được hình thành. Các nước vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau để xác lập vai trò, vị thế của mình đối với khu vực và thế giới.
Đa cực hoá chính trị trở thành xu hướng phổ biến của thế giới đương đại. Trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, các quốc gia, đặc biệt là các nước vừa và nhỏ, các tổ chức, lực lượng chính trị quốc tế, đều điều chỉnh chính sách đối nội, đối ngoại và phương thức hành động cho phù hợp với lợi ích mỗi quốc gia và thích ứng với sự phát triển của thế giới. Biểu hiện nổi bật của xu thế điều chỉnh chiến lược là các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ và tự lực tự cường, chủ động tìm kiếm con đường phát triển của mình. Liên Xô phát động công cuộc cải tổ, Trung Quốc thực hiện cải cách 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com song chưa đưa lại hiệu quả, gây nên sự xáo động lớn trong hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Hơn thế nữa, tình hình thế giới có những thay đổi nhanh chóng, trực tiếp thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá theo xu thế chung là hoà bình, độc lập và phát triển, các nước vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau. Chiến tranh lạnh đã kết thúc nhưng cuộc đấu tranh chống sự áp đặt về chính trị, kinh tế của một số nước đang lớn lên, một số nước đang phát triển; cuộc đấu tranh bảo vệ và tăng cường các giá trị tiến bộ của nhân loại vẫn đang diễn ra dưới nhiều hình thức. Các nước xã hội chủ nghĩa, các Đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng tiến bộ trên thế giới vẫn kiên trì đấu tranh vì mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Nói đến tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh còn là nói đến quá trình phát triển của xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá và sự ra đời của các tổ chức liên minh quốc tế.
Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá xét về bản chất là quá trình gia tăng mạnh mẽ của các mối liên hệ, sự phụ thuộc lẫn nhau, sự tác động qua lại giữa các quốc gia, khu vực trên lĩnh vực kinh tế. Trong khi đo, các nước xã hội chủ nghĩa đang đứng trước những thách thức mới của lịch sử. Chủ nghĩa xã hội hiện thực cũng đang tìm lối thoát cho cuộc khủng hoảng thông qua quá trình biến đổi mang tính bước ngoặt với những tên gọi khác nhau: cải cách, mở cửa ở Trung Quốc, cải tổ ở Liên Xô.
Trung Quốc đang từng bước triển khai công cuộc cải cách, mở cửa đất nước, Liên Xô và các nước Đông Âu đang gặp rất nhiều khó khăn. Cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vẫn diễn ra gay gắt, quyết liệt dưới nhiều hình thức mới. Trung Quốc và Liên Xô là hai nước có mối liên hệ khăng khít tác động lớn nhất đến Việt Nam. Công cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc theo hướng thị trường mở cửa bắt đầu từ năm 1978.
Những thành tựu của 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trung Quốc đã thu hút sự quan tâm của nhiều nước trong đó có Việt Nam. Đảng và Chính phủ ta quan tâm nhiều đến Trung Quốc bới giữa hai nước có sự tương đồng nhiều mặt về các điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội. Mặc dù trong thời gian này quan hệ giữa Việt Nam – Trung Quốc rất căng thẳng, chưa được bình thường hoá. Tiếp đó, công cuộc cải tổ không thành công dẫn tới sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên xô và các nước Đông Âu là bài học lịch sử cho ta bài học lớn là không thể cải tổ theo kiểu “phủ định sạch trơn”, giải quyết không biện chứng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, tiến hành công cuộc cải tổ một cách vội vàng, thụ động, không khoa học và không có những bước đi thích hợp.
Bên cạnh đó, trong thời gian này, sự thành công của các nước “công nghiệp mới” ở Châu Á và Đông Nam Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo, Thái Lan đã đưa ra những gợi ý hết sức quan trọng về cách thức và giải pháp phát triển đối với các nước xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp và có kiểu quan hệ xã hội văn hoá phương Đông. Động lực để phát triển của các nước này là phát huy nội lực, huy động mọi tiềm năng của đất nước, thực hiện cơ chế thị trường, mở cửa, hướng vào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. Những biến đổi của tình hình thế giới và xu thế của thời đại đã đặt ra một yêu cầu cấp bách đối với nước ta trong thập niên đầu những năm 80 phải thực hiện công cuộc đổi mới. Nhưng vấn đề là ở chỗ “nhân tố chủ quan phải nhận thức kịp thời và tự giác thực hiện đòi hỏi thực tiễn cấp bách đó” [104, tr.
Mặt khác việc lựa chọn con đường, biện pháp, hình thức bước đi của công cuộc đổi mới phải chuẩn xác, hợp lý và khoa học để tránh được những sai lầm có thể xẩy ra. Đồng thời, chúng ta cũng cần phải tranh thủ, kịp thời những cơ hội và các điều kiện khách quan đang thay đổi của thế giới, của khu vực và những biến đổi trong nước để đổi mới nhận thức, đổi mới tư duy, đổi mới hành động theo hướng hợp quy luật, để vượt qua những thách thức và không ngừng phát triển. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tình hình trong nước Sau khi hoà bình được lập lại, đất nước thống nhất, nhân dân cả nước dưới ngọn cờ của Đảng xây dựng lại nền kinh tế đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nguyện vọng chính đáng và tất yếu của nhân dân Việt Nam và cũng là nhiệm vụ chính của Đảng, cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.
Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như: chiến tranh kéo dài để lại hậu quả nặng nề, nhà nước ta phải hoàn trả lại các khoản nợ mà ta đã vay trong thời gian chiến tranh cùng với sự chống phá chính quyền của ta ở các tỉnh biên giới, thêm vào đó nước ta bị bao vây kinh tế, cấm vận sự giao lưu kinh tế giữa nước ta với các nước khác trên thế giới. Mặt khác, trong quá trình thực hiện, lực lượng cán bộ của ta còn thiếu tư duy sáng tạo về kinh tế, nhận thức về con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội còn mang tính chủ quan duy ý chí…Những nguyên nhân đó đã đẩy nước ta rơi vào hoàn cảnh khó khăn như: sản xuất tăng chậm, nhiều chỉ tiêu quan trọng của kế hoạch 5 năm không đạt được, tài nguyên bị lãng phí, phân phối lưu thông rối ren, tỷ lệ người thất nghiệp cao, chất lượng cuộc sống của người dân rất thấp, các tiêu cực trong xã hội phát triển, nghiêm trọng hơn niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng trong quần chúng nhân dân bị giảm sút. Cuộc tổng cải cách giá - lương - tiền trong năm 1985 do những bước đi sai lầm, nóng vội làm cho nạn lạm phát phi mã, lưu thông vô cùng bế tắc càng làm cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội thêm nghiêm trọng. Thực trạng trên đặt ra một yêu cầu khách quan và bức thiết là phải đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, phải có những quyết sách khoa học để ổn định tình hình kinh tế - xã hội đưa đất nước vượt ra khỏi khủng hoảng để tiến lên.
Đứng trước một thách thức mới đầy cam go của thời đại, Đảng ta phải chứng tỏ năng lực lãnh đạo của mình và điều đó được chứng minh bằng các 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chặng đường đổi mới nền kinh tế bắt đầu từ Đại hội VI và tiếp tục qua các Đại hội sau của Đảng. Thực hiện quá trình đổi mới toàn diện đất nước không phải là đổi mới chế độ xã hội chủ nghĩa mà bằng các phương pháp mới, cách làm mới để tiến tới chủ nghĩa xã hội - một xã hội tốt đẹp mà nhân dân ta mong ước. Đổi mới phải toàn diện và đồng bộ từ kinh tế, chính trị đến văn hoá, xã hội, trong đó nhấn mạnh mục tiêu đổi mới kinh tế và gắn liền với đổi mới chính trị. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng khai mạc ngày 15/12/1986 là điểm mốc đầu tiên đánh dầu quá trình đổi mới của Đảng.