mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một lần 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Vốn là địa bàn chiến lược quan trọng ở phía Nam Đông Dương, Tây Nguyên đã trở thành một trong những mục tiêu đánh chiếm sớm của thực dân Pháp. Tháng 11-1945, quân Pháp mở cuộc tấn công lên Tây Nguyên và đến tháng 6-1946, hầu hết các vị trí then chốt trên địa bàn chiến lược này bị chúng chiếm đóng và thiết lập bộ máy cai trị. Thực dân Pháp triệt để thi hành chính sách chia để trị, phá hoại khối đoàn kết của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên với đồng bào cả nước và thực hiện chính sách ngu dân để dễ bề cai trị.
Hòng quyết tâm tách Tây Nguyên ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, thực dân Pháp ra sức xây dựng hệ thống đồn bốt ở khắp nơi, lập ra xứ “Tây Kỳ tự trị”. Theo sắc lệnh được ban hành ngày 27-5-1946, các tỉnh Đắk Lắk, Đồng Nai Thượng, Lâm Viên, Pleiku, Kon Tum được tổ chức thành một “liên bang” được mệnh danh là “Liên bang phụ trách các dân tộc sơn cước miền Nam Đông Dương”, đặt dưới sự điều hành trực tiếp của Cao uỷ Pháp ở Đông Dương. Thực hiện Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-12-1946) và Chỉ thị kháng chiến kiến quốc của Trung ương Đảng (25-11-1945), đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã nhất tề đứng lên cùng nhân dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bên cạnh phát triển LLVT địa phương, các đơn vị bộ đội chủ lực được chi viện và gấp rút xây dựng ở Tây Nguyên như các trung đoàn 94, 95, 67, 108, 803, 120.
Sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị chủ lực và LLVT nhân dân Tây Nguyên đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh của chúng. Đặc biệt trong chiến cuộc Đông-Xuân 1953-1954, quân và dân Tây Nguyên phối hợp chặt chẽ với chiến trường chính Bắc Bộ làm thất bại kế hoạch tập trung quân của Navarre cũng như góp phần làm thất bại chiến dịch hành quân mang tên Atlante vào vùng tự do của Bình Định và Phú Yên của địch. Đêm 26-1-1954, quân và dân ta mở màn cuộc tiến công chiến lược ở Bắc Tây Nguyên, chỉ trong một thời gian ngắn thị xã Kon Tum và toàn tỉnh 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kon Tum được hoàn toàn giải phóng (7-2-1954). Tiếp đó, Binh đoàn 100 của địch bị tiêu diệt, ta giải phóng thêm một phần tỉnh Gia Lai.
Vùng giải phóng Bắc Tây Nguyên được mở rộng liên hoàn với vùng tự do Liên khu V, các vùng căn cứ ở Cực Nam Trung Bộ, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia. Với thắng lợi to lớn này, quân và dân Tây Nguyên đã làm đảo lộn thế trận của địch, buộc chúng từ thế chủ động tung quân ra càn quét nhằm kiểm soát địa bàn chiến lược phải bị động chuyển sang thế phòng ngự để chống đỡ cuộc tiến công dồn dập của ta. Chính sự phân tán lực lượng cơ động của địch, tạo điều kiện cho chiến trường chính Bắc Bộ giành thắng lợi vang dội ở Điện Biên Phủ, góp phần quyết định vào việc thực dân Pháp chấp nhận ký Hiệp định Giơnevơ, kết thúc thắng lợi chín năm kháng chiến trường kỳ của nhân dân Việt Nam. Thực tế lịch sử đã khẳng định trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã hăng hái tiến lên dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, nêu cao tinh thần thượng võ, truyền thống đoàn kết, sát cánh bên nhau, cùng nhân dân cả nước đánh đuổi giặc ngoại xâm và giành thắng lợi.
Chính sách dinh điền của chính quyền Ngô Đình Diệm. Âm mưu và mục tiêu. Sau khi thay thế Pháp thống trị miền Nam Việt Nam, Mỹ đã xây dựng miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự ở Đông Nam Á và dựng lên chính quyền tay sai do Ngô Đình Diệm đứng đầu. Sự thất bại của Pháp ở Việt Nam giúp Mỹ nhận ra rằng, cách mạng giành được thắng lợi là nhờ sự ủng hộ và che chở của nhân dân.
Chính vì vậy, muốn giành được thắng lợi, vấn đề đặt ra là phải lôi kéo được nhân dân về phía mình, phải tranh thủ chinh phục “trái tim và khối óc của nông dân”. Ngay những ngày đầu lên cầm quyền miền Nam, Ngô Đình Diệm đặc biệt chú trọng các chính sách đối với nông dân và nhiều lần hô khẩu hiệu: “giải phóng nông dân”, “hữu sản 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hóa nông dân”. Chúng nhận định: “Phải tranh thủ lại nhân dân trong tay Việt Cộng, làm thế nào tách rời Cộng sản ra khỏi quảng đại quần chúng, khép chặt nông dân làm một lực lượng hỗ trợ ta… Chỉ có như vậy mới mong tiêu diệt địch một cách tận gốc và lâu dài” [77]. Thực hiện ý đồ trên, CQNĐD đã cho ra đời nhiều chính sách mị dân đối với nông dân ở miền Nam Việt Nam, trong đó có CSDĐ.
Năm 1956, trước khi ban hành CSDĐ, CQNĐD lập “Ủy ban Nghiên cứu vấn đề khai thác vùng Cao nguyên và các vùng đồng lầy ở miền Nam Việt Nam”, do Trịnh Văn Hy-Đổng lý Văn phòng Bộ Điền thổ và Cải cách điền địa đứng đầu [78]. Theo đó, Ủy ban này có nhiệm vụ tìm kiếm, khảo sát các địa điểm dựa theo những tiêu chuẩn do Ngô Đình Diệm đề ra nhằm thực hiện CSDĐ. Tổng ủy trưởng Phủ Tổng ủy Dinh điền Bùi Văn Lương cho biết: “Theo Tổng thống nên chọn những nơi có chút ít điều kiện phát triển về sinh hoạt…, có sẵn nước ăn, tắm giặt, tưới cây và có đủ điều kiện về đất đai, đất tốt có khoảng rộng để định cư từ 1.000 người trở lên” [91]. Theo như khảo sát trước khi thành lập dinh điền, Tây Nguyên có nhiều triển vọng nhất bởi đất đai, tài nguyên của vùng đất này, “Có tới 1.000 mẫu đất trồng trọt… đất rộng, phì nhiêu, có suối dài, có thể quy tụ 2 hoặc 3 ngàn người trở lên” [91].
Bùi Văn Lương cũng đưa ra nhận định “vùng Cao nguyên xét có đủ khả năng đón nhận đồng bào di dân… rất thích hợp cho việc dinh điền… còn vùng đầm lầy kết quả không được dồi dào lắm” [91]. Chính Mỹ và CQNĐD cũng nhận thấy được những tiềm năng to lớn của khu vực Tây Nguyên. Điều này được thể hiện trong “Dự án tác chiến ở miền Thượng”, CQNĐD cho rằng: “Về phương diện kinh tế, miền Thượng là kho tài nguyên vô tận, đã cung cấp đủ cho nhân dân miền Nam đủ các thứ lâm sản, khoáng sản, thổ sản, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nước Việt Nam tự do không giàu mạnh bởi đồng ruộng phì nhiêu vùng đồng bằng, mà sẽ 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giàu mạnh bởi tài nguyên phong phú của miền Thượng du khi được khai thác đúng mức” [77].
Ngoài tiềm năng kinh tế, Tây Nguyên còn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, quân sự không chỉ đối với Việt Nam nói riêng mà còn đối với Đông Dương và Đông Nam Á. CQNĐD cho rằng: “trong trường hợp chiếm được toàn bộ các tỉnh Tây Nguyên, Việt Cộng sẽ khống chế dễ dàng các tỉnh Trung Nguyên Trung phần chật hẹp và chỉ cần với một với là có thể tới miền Đông, rồi miền Tây Nam phần một cách mau lẹ. Cái lợi của Việt Cộng khi ấy là trên đánh xuống với hậu cứ tiếp viện quân khu, vũ khí là Miên và Lào, cái bất lợi của ta là dưới đánh lên sẽ vấp phải dãy Trường Sơn hiểm yếu mà Việt Cộng đã bủa vây du kích khắp nơi” [77]. Với những nhận định như vậy, Mỹ và CQNĐD đã đi đến kết luận rằng “muốn chiến thắng ở miền Nam Việt Nam thì phải kiểm soát bằng được vùng Cao nguyên Trung phần có tính chất chiến lược này” [29, tr.
Chính vì vậy, Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ là Raffor nhận xét “Tây Nguyên có thể trở thành địa bàn cơ động quan trọng, một khu vực tập trung quân đội” [45, tr. Trên cơ sở khảo sát, ngày 23-4-1957, Ngô Đình Diệm ra Sắc lệnh số 103-TTP, thành lập “Phủ Tổng ủy Dinh điền”, tổ chức như một bộ, trực thuộc Phủ Tổng thống và đặt dưới quyền điều hành trực tiếp của của Phó Tổng thống [82]. Tổng ủy trưởng Phủ Tổng ủy Dinh điền là Bùi Văn Lương, có chức danh ngang hàng bộ trưởng; tướng Lê Văn Kim làm phụ tá; cố vấn Mỹ Leland Barrows (Giám đốc Cơ quan viện trợ Mỹ) trực tiếp chỉ đạo. Để thi hành CSDĐ, CQNĐD đã thiết lập một tổ chức chặt chẽ, có quy mô từ trung ương xuống tận cơ sở để trực tiếp thực thi và quản lý các địa điểm dinh điền.
Theo Nghị định số 691-TTP/VP, ngày 23-4-1957 của Tổng thống Ngô Đình Diệm, Phủ Tổng ủy Dinh điền có trách nhiệm điều hành mọi hoạt động 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của dinh điền trên toàn miền Nam thông qua các cơ quan: Văn phòng, các Nha như: Hành chính, Tài chính, Di dân và Định cư, Kỹ thuật, Nông cơ và Vùng dinh điền. Tiếp theo đó, ngày 25-9-1957, CQNĐD ra tiếp hai Nghị định số 1502- TTP/DĐ và 1503-TTP/DĐ với nội dung thiết lập và triển khai hoạt động CSDĐ ở miền Nam Việt Nam gồm 4 vùng [82]: 1-Vùng dinh điền Cao nguyên Trung phần (gồm tỉnh Kon Tum, Pleiku, Đắk Lắk); 2-Vùng dinh điền Đồng Tháp Mười (gồm các tỉnh Kiến Tường và Kiến Phong); 3-Vùng dinh điền An Xuyên-Ba Xuyên (gồm tỉnh An Xuyên và Ba Xuyên); 4-Vùng dinh điền Cái Sắn (gồm các tỉnh Kiên Giang và An Giang). Ngày 4-10-1957, Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ quy định về tổ chức vùng dinh điền: đứng đầu là một Quản đốc, giúp việc có một Phó Quản đốc. Quản đốc và Phó Quản đốc vùng dinh điền chỉ đạo trực tiếp các Trưởng khu dinh điền và điều hành hoạt động các địa điểm dinh điền trong vùng qua các phòng Hành chính, Kế toán, Chuyên vận cùng các cơ quan chuyên môn thuộc các bộ khác… Các vùng dinh điền tùy theo nhu cầu có thể được tổ chức thêm các khu dinh điền, đặt dưới quyền điều khiển của một trưởng khu.
Trưởng khu dinh điền có nhiệm vụ liên lạc với Quản đốc, đồng thời giải quyết công việc cần thiết cho các địa điểm thông qua chỉ đạo trực tiếp của địa điểm trưởng-người đứng đầu địa điểm dinh điền [84]. Về tổ chức hành chính địa điểm dinh điền: ngoài Địa điểm trưởng đứng đầu phụ trách chung còn có các cơ quan hành chính, an ninh, quân sự và hệ thống quản lý sản xuất kinh doanh, các đoàn thể chính trị như: Thanh niên Cộng hòa, Phụ nữ liên đới, Phong trào cách mạng quốc gia, Đảng Cần lao nhân vị… Đặc biệt, dinh điền nào cũng có Nhà thờ Thiên Chúa giáo làm “phương tiện” tuyên truyền cho chúng.