Chương 1 TRÍ THỨC VÀ LAO ĐỘNG SÁNG TẠO CỦA TRÍ THỨC 1. Quan niệm về trí thức 1. Khái niệm trí thức Thuật ngữ “trí thức” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “Intelligentia” chỉ những người có hiểu biết, thông thái, có tri thức… Đến nay, việc đưa ra một khái niệm về trí thức hoàn chỉnh, đầy đủ về mặt nội hàm rất phức tạp vì sự xuất hiện của tầng lớp trí thức rất đa dạng trong từng giai đoạn lịch sử. ỗi người đều có cách tiếp cận riêng về khái niệm trí thức và mỗi khái niệm đều có tính hợp lý của nó.
Theo lý luận của chủ nghĩa ác – Lênin, trí thức được đề cập đến như một tầng lớp xã hội đặc biệt. Vào giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã đạt được những bước tiến quan trọng về kinh tế, nền đại công nghiệp đã cơ bản hoàn thành ở các nước tư bản Châu Âu, nhờ sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, C. ác đã nhận rõ vị trí, vai trò của trí thức. ặc dù chưa đưa ra khái niệm đầy đủ về trí thức, nhưng trong tác phẩm “Lý luận về giá trị thặng dư” Tập IV của Bộ “Tư Bản” C.Mác đã căn cứ vào những hình thức cơ bản của lao động trí óc để chia trí thức thành ba nhóm: Hai hình thức lao động trí óc là hình thức lao động của các nhà văn, nhà báo, những người hoạt động nghệ thuật và hình thức lao động của các nhà lý luận tuyên truyền, giáo viên, bác sĩ, luật sư, giới sỹ quan, viên chức, các nhà hoạt động chính trị.
Hai hình thức này nằm trong khu vực sản xuất phi vật chất, còn hình thức thức ba là hình thức lao động của các kỹ sư, các nhà khoa học, kinh tế nằm trong khu vực sản xuất vật chất. ác, thời đại càng phát triển thì càng cần những con người có một khối lượng kiến thức chung và chuyên sâu nhất định, một trình độ văn hóa nhất định mới tham gia vào nền sản xuất xã hội. Bộ phận trí thức thứ ba với lao động trí tuệ của mình đã tham gia trực tiếp vào việc sản xuất ra của cải vật chất, biến lao động của mình thành tư bản. ác quan niệm thành phần xã hội của trí thức gồm những đối tượng cụ thể sau: + Các nhà văn, nhà báo, những người hoạt động nghệ thuật.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Các nhà lý luận tuyên truyền, giáo viên, bác sĩ, luật sư, giới sỹ quan, viên chức và các nhà hoạt động chính trị. + Các kỹ sư, các nhà khoa học, kinh tế. Đến giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn, V. Lênin đã đưa ra định nghĩa trí thức: “Tôi dùng từ trí thức, giới trí thức để dịch những danh từ Đức Literat, Literatentum là những danh từ có nghĩa bao hàm không những chỉ các nhà trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những nghề tự do nói chung, các đại biểu của lao động trí óc (tức là những người mà người Anh gọi là Brainworker khác với những đại biểu của lao động chân tay” [36, tr.
Người đã quan tâm đến trí thức như một tầng lớp xã hội đặc biệt, không có hệ tư tưởng riêng, luôn phục vụ cho một giai cấp nhất định trong xã hội. Vì vậy, trong xã hội đương thời, nhất là xã hội nước Nga, V.Lênin chia trí thức thành 3 nhóm: trí thức tư sản, trí thức tiểu tư sản, trí thức vô sản. Dưới chủ nghĩa tư bản, số lượng trí thức được tăng lên hết sức nhanh chóng nhờ kết quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. Lênin yêu cầu phải có cách ứng xử và phương pháp tiếp cận khác nhau đối với từng nhóm trí thức.Lênin đánh giá rất cao về khả năng, sức mạnh và tính độc lập của trí thức trong xã hội.
Các lãnh tụ của một giai cấp nhất định ở mọi nơi thường là những người tiến bộ và có tri thức nhất định. Đặc biệt là, V.Lênin chú ý tới giới sinh viên, coi sinh viên là bộ phận nhạy cảm nhất.Lênin gọi sinh viên là người châm ngòi, là bộ phận luôn đi đầu trong cuộc đấu tranh chống các thế lực phản động.Lênin đã nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của trí thức, đưa ra định nghĩa trí thức toàn diện hơn, coi trí thức là một tầng lớp trung gian, là những người có hiểu biết và trình độ văn hóa cao so với các tầng lớp xã hội khác. Tóm lại, các nhà kinh điển của chủ nghĩa ác - Lênin nhận thấy trí thức là lực lượng xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Xã hội càng phát triển thì tầng lớp trí thức càng có vai trò to lớn, nhất là trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật và văn hóa tư tưởng.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cho đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về trí thức. Trong cuốn từ điển Triết học của Nhà xuất bản atxcơva, ban hành năm 1986, có ghi: “Trí thức – tập đoàn xã hội gồm những người làm nghề lao động trí óc. Giới trí thức bao gồm: kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sỹ, thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận lớn viên chức” [64, tr. Ở định nghĩa này, lao động trí óc được coi là tiêu chí cơ bản để xác định trí thức.
Trong từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học của Nhà xuất bản atxcơva, được ban hành cùng năm 1986 lại viết: “Trí thức - một nhóm xã hội bao gồm những người chuyên làm nghề lao động trí óc phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó” [ 65, tr. Ở đây, tiêu chí để xác định trí thức không chỉ là lao động trí óc, cụ thể hơn là lao động trí óc phức tạp mà còn bao gồm cả trình độ học vấn. Trong Bách khoa toàn thư Pháp, tập X viết như sau: “Trí thức là một phạm trù lịch sử. Ở mỗi nước khác nhau, khái niệm trí thức có khác nhau.
Ở thời đại khác, chức năng của trí thức có khác nhau. Trong đời sống xã hội, trí thức có vị trí nhất định. Họ có thể có thái độ đơn thuần “trùm chăn”, cũng có thể tích cực dấn thân vào hoạt động chính trị. Người ta có thể nói trí thức là kỹ sư, quan chức, nhà phản biện xã hội tâm lý học, nhà hoạt động cách mạng.
Trong xã hội ổn định, trí thức có thể là những quan chức của chế độ hiện hành, trong xã hội khủng hoảng, họ có thể trở thành nhà lý luận cách mạng, trong xã hội buồn thảm, thậm chí họ bị coi là kẻ bung xung” [ Dẫn theo 12, tr. Theo định nghĩa này, quan niệm trí thức ở mỗi nước sẽ là khác nhau, vị trí và vai trò của họ trong xã hội cũng khác nhau. Ở Việt Nam, trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, các triều đại phong kiến rất quan tâm đến trí thức. Từ khi Văn miếu Quốc Tử Giám – trường Đại học đầu tiên của Việt Nam được xây dựng, việc đào tạo nhân tài ngày càng được coi trọng hơn.
Kế thừa truyền thống đó, ngay từ khi ra đời, Đảng và Nhà nước ta luôn đánh giá cao vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức Việt Nam. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, vai trò của đội ngũ trí thức càng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được nhấn mạnh. Tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Đảng ta định nghĩa: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội” [18, tr. Trí thức Việt Nam xuất thân từ nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội, nhất là từ công nhân và nông dân, phần lớn trưởng thành trong xã hội mới, được hình thành từ nhiều nguồn đào tạo ở trong và ngoài nước, với nhiều thế hệ nối tiếp nhau, trong đó có bộ phận khá đông trí thức người Việt Nam ở nước ngoài.
Từ những quan niệm về trí thức như trên có thể hiểu trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt, bao gồm những người lao động trí óc phức tạp, có trình độ học vấn và chuyên môn cao, có khả năng sáng tạo ra những tri thức mới – tiến bộ - hữu ích và truyền bá những tri thức đó đồng thời ứng dụng nó vào thực tiễn. Đặc trưng của trí thức Thứ nhất, trí thức là người lao động trí óc Trí thức là người lao động trí óc, lao động đòi hỏi sự hao phí năng lượng thần kinh ở mức độ cao hơn. Đó là điều đầu tiên để phân biệt trí thức với những người lao động chân tay. Đặc trưng của lao động trí óc là những thao tác của tư duy, còn đặc trưng của lao động chân tay là những thao tác của cơ bắp.
Khi lực lượng sản xuất còn hết sức lạc hậu, thấp kém, xã hội chưa có sự phân biệt giữa lao động chân tay với lao động trí óc thì chưa xuất hiện trí thức. Vào giai đoạn cuối của xã hội nguyên thủy, hình thành sự phân công lao động xã hội trên cơ sở lực lượng sản xuất phát triển hơn, trong đó có sự phân công giữa lao động trí óc và lao động chân tay. Sự xuất hiện của lao động trí óc dẫn đến sự ra đời của trí thức. Đó cũng là khi xã hội có sự phân chia giai cấp và nhà nước ra đời.
Do vậy, trí thức ra đời mang tính lịch sử, đánh dấu bước phát triển mới của nhân loại. Trí thức xuất hiện gắn liền với sự phân công lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay. Lao động trí óc là đặc trưng của trí thức. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, sự phân biệt lao động trí óc và lao động chân tay chỉ mang tính chất tương đối, thể hiện ở chỗ: trong quá trình thực hiện công việc, chủ yếu là chi phí năng lượng thần kinh trung ương hay chi phí năng lượng cơ bắp.
Sản phẩm trực tiếp của lao động trí óc là giá trị tinh thần, còn sản phẩm trực tiếp của lao động chân tay là giá trị vật chất. Lao động của “trí thức” là lao động “chất xám” tạo ra những sản phẩm trí tuệ.