CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÍ LUẬN SỬ DỤNG DÂN CA TRONG HOẠT ĐỘNG ÂM NHẠC CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Những nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu nước ngoài đã chứng minh rằng việc tích hợp dân ca vào hoạt động âm nhạc cho trẻ mầm non mang lại nhiều lợi ích về cả mặt tâm lý và vận động. Theo các nghiên cứu, việc tiếp xúc với âm nhạc dân ca giúp trẻ phát triển khả năng ngôn ngữ, tư duy logic và khả năng sáng tạo. Ngoài ra, âm nhạc dân ca còn giúp trẻ phát triển kỹ năng xã hội và xây dựng tình yêu quê hương trong lòng trẻ. Nghiên cứu nước ngoài về việc tích hợp dân ca vào hoạt động âm nhạc cho trẻ mầm non đồng thời mang lại những phương pháp mới và sáng tạo, làm giàu nguồn tài liệu và kinh nghiệm cho việc áp dụng tại Việt Nam.
- Tác phẩm "The Role of Folk Music in the Early Childhood Classroom" của Susan A. Meredith và Suzanne L. Burton khẳng định rằng: “ Sử dụng âm nhạc dân ca có thể khuyến khích sự phát triển văn hóa, xã hội, tình cảm, ngôn ngữ và thể chất cho trẻ bằng cách tham gia vào các hoạt động âm nhạc dân ca, tạo ra môi trường học tích cực và hứng thú cho trẻ mầm non, giúp trẻ hiểu rõ hơn về lịch sử, truyền thống và giá trị của cộng đồng mình, tạo ra một trải nghiệm giáo dục đa chiều giúp trẻ phát triển các kỹ năng ngôn ngữ âm nhạc, tư duy logic và sự nhận thức về thế giới âm nhạc. - "Folk Songs as a Tool for Early Childhood Education" của Sarah L.
Trozzo nhấn mạnh vai trò của các bài hát dân ca như một công cụ giáo dục cho trẻ mầm non. Việc sử dụng các bài hát dân ca làm công cụ giáo dục trong lớp học mầm non mang lại nhiều lợi ích về mặt phát triển ngôn ngữ, toàn diện và văn hóa cho trẻ. - "Using Folk Music in Early Childhood Education" của Marissa Martinez đã đưa ra những phương pháp và nguồn tài liệu để sử dụng âm nhạc dân ca trong giáo dục cho trẻ mầm non. Tác giả đề cập đến các ứng dụng thực tiễn và lợi ích của việc tích hợp âm nhạc dân ca vào chương trình học.2 Những nghiên cứu trong nước Sử dụng dân ca cho trẻ mầm non được nhiều nghiên cứu thể hiện trong các công trình sau: - Luận văn tốt nghiệp Đại học của Phan Đông Phương “ Bước đầu dạy hát đồng dao phổ nhạc của Phạm Tuyên” cho trẻ mẫu giáo.
- Luận án thạc sĩ của Phạm Thị Hòa “Nghiên cứu âm nhạc đối với trẻ mẫu giáo” - "Hoạt động âm nhạc dân ca và ảnh hưởng đối với sự phát triển xã hội của trẻ mầm non” - Tác giả: Phạm Thị Hà. - "Nghiên cứu về cách thức tích hợp âm nhạc dân ca vào chương trình giáo dục mầm non ở Việt Nam" - Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn. - "Tác động của âm nhạc dân ca đối với sự phát triển tư duy sáng tạo của trẻ mầm non" - Tác giả: Hoàng Minh Đức.2 Dân ca và các thể loại dân ca sử dụng trong hoạt động âm nhạc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 1.1 Khái niệm dân ca GS.TS Trần Quang Hải tóm tắt ca dao Việt Nam như sau “Dân ca là những bài hát, khúc ca được sáng tác và lưu truyền trong dân gian mà không thuộc về riêng một tác giả nào đó. Bài hát đầu tiên làm một người nghĩ ra rồi truyền miệng qua nhiều người từ đời này qua đời khác và được phổ biến ở từng vùng, từng dân tộc.
Các bài dân ca được đất sẵn sàng lọc qua nhiều năm tháng chắc chắn với thời gian ”.Trần Văn Khê: Dân ca là những bài hát truyền khẩu phát sinh trong dân chúng, được truyền tụng và phổ biến trong dân chúng. Theo Hùng Lân: Dân ca là những bài hát do dân chúng truyền khẩu cho nhau, nhiều khi không biết ai là tác giả tiên khởi, không biết ra đời từ thời nào, gốc gác từ đâu, mà chỉ biết rằng cốt cách bên trong thì khác xa với những bản tân nhạc ngày nay. Không dễ dàng để có một khái niệm chung về dân ca. Dân ca không có khái niệm hay ý nghĩa cụ thể như các loại thể loại khác.
Dân ca thường được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua các phương tiện truyền thông truyền thống và 15 qua các hoạt động văn hóa cộng đồng. Dân ca Việt Nam là một thể loại truyền tải âm nhạc. Thể hiện các bài dân ca bằng lời nói và bằng ngón tay mang lại cho mỗi nghệ sĩ quyền hoàn thiện bản thân và đóng góp vào tác phẩm của mình trong quá trình biểu diễn. Vì vậy hầu như tất cả các đồng tác giả và các nhà soạn nhạc gốc vẫn chưa được biết đến.2 Một số làn điệu dân ca phổ biến trong giáo dục âm nhạc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường Mầm Non 1.1 Lý Lý là một thể loại dân ca chiếm phần lớn trong âm nhạc miền Nam.
Hát Lý được hát mọi lúc, mọi nơi, không có sự sắp xếp, thời gian, tổ chức, nghi lễ hay quy trình trong ca hát. Lý cũng không phải là một điệu để cạnh tranh. Lý Nam Bộ được sáng tác chủ yếu từ dân ca. Miền Nam là vùng đất có địa hình bằng phẳng, khí hậu ôn hòa nhất cả nước, thiên nhiên tươi đẹp và cuộc sống thú vị, hạnh phúc.
Con người miền Nam có nếp sống giản dị, hòa đồng, tính cách phóng khoáng, bộc trực… Những đặc trưng đó được mang vào và thể hiện trong từng câu hát của Dân ca Miền Nam. Lời nói phải đơn giản, giàu cảm xúc, chân thật và hồn nhiên, nhịp điệu phải gắn liền với tiếng mẹ đẻ, nhịp điệu phải rõ ràng, tốc độ phải nằm trong khoảng tốc độ trung bình. Ngoài ra, đặc điểm của ngôn từ trong các câu hát cũng ảnh hưởng bởi đặc điểm của lời nói. Các phương ngữ miền Nam phân biệt rõ ràng các nguyên âm, trừ dấu chấm hỏi và dấu ngã.
Trọng âm thường ở nguyên âm cuối, v. Nó không đều và có thể thấy rõ điều này khi người ta hát. Chủ yếu nội dung ca dao Nam bộ là chủ đề về tình yêu: lòng yêu nước, tình yêu thiên nhiên, tình người, tình thiện ác trong dân ca, tình cha con, tình mẹ con.Như chúng ta đã biết , Ca dao Nam Bộ rất phong phú về thể loại; lý, hát ru, ca Huế Tĩnh, ca đối đáp, đồng dao, thơ, vè. Mỗi thể loại đều có những đặc điểm, giá trị nghệ thuật riêng và hiệu suất của nó.
Tuy nhiên, đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ mầm non: Cách hát đơn giản, giai điệu, nhịp điệu. giúp trẻ nghe nhạc tốt hơn, hứng thú với bài hát, ghi nhớ lời nói. Một trong những bài hát được yêu thích nhất phục vụ sự phát triển âm nhạc miền Nam cho trẻ mẫu giáo là giai điệu Lý. Nhiều bài hát được sáng tác dựa trên một bài hát dân ca duy nhất nên rất phong phú về giai điệu, vần điệu.
Hình thức ca khúc Nam Bộ nhìn chung ngắn gọn, câu văn 16 mạch lạc (thường từ 6 đến 8 dòng), tiết tấu rõ ràng, nhịp điệu phong phú, hấp dẫn, mạnh mẽ. Chất lượng âm nhạc thô và trung thực,cảm xúc cân bằng và nhanh chóng. Ví dụ: Bài "Lý cây bông" được sáng tác dựa trên câu ca dao: Bông xanh bông trắng bông vàng Bông lê bông lựu đố nàng mấy bông Nội dung của Lý thể hiện mọi sự vật xung quanh trong cuộc sống tượng trưng cho lối sống thời bấy giờ: Nhiều bài viết của Lý mang tính biểu tượng như Lý con Chuột, Lý hay Mèo, Lý con Cua, Lý con Sam, Lý con Khỉ, v. có giai điệu nhí nhanh nhưng không theo kiểu hoàn toàn ca dao, nội dung và câu chuyện của những bài hát như vậy rất hay.
Ngoài những bài viết về tình yêu còn có những bài viết về mối quan hệ tốt đẹp, mối quan hệ giữa những người sống trong cùng một gia đình và thái độ chỉ trích những thói quen xấu của con người. Những bài học này rất phù hợp với trẻ nhỏ và chúng ta cần để trẻ làm quen. Lý Nam Bộ có hệ thống trọng âm, đệm, nhấn giọng rất phong phú. Là kỹ thuật dùng để chuyển thể ca dao thành dân ca kiểu Lý.2 Dân ca Đồng Bằng Bắc Bộ Bắc Bộ là vùng đất lịch sử lâu đời của người Việt đồng thời là cái nôi hình thành văn hóa, văn minh Việt từ buổi ban đầu và hiện tại là vùng văn hóa bảo lưu được nhiều giá trị truyền thống hơn cả.
Trong đó dân ca Quan Họ Bắc Ninh được xem là sản phẩm đặc sắc trong nền văn hóa dân gian cổ truyền Việt Nam. Vì thế, để dòng âm nhạc ấy sống mãi trong lòng dân tộc thì ngay từ thế hệ trẻ, chúng ta cần thúc đẩy việc tiếp cận nền âm nhạc dân gian cho các em thế hệ trẻ.3 Dân ca Quan Họ Bắc Ninh Dân ca Quan Họ Bắc Ninh là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. Dân ca Quan Họ có nhiều giọng điệu, nghi thức nhất định, yêu cầu người hát phải có công cụ, sự luyện tập công phu, được tập hợp trong một tổ chức nhất định. Quan Họ là lối sinh hoạt ca hát giao duyên, là hát đối đáp, đôi khi là 17 hát thi thố giữ các nhóm nam nữ.
Quan Họ là lối hát đối lời, đối ý, đối làn điệu, thi đua nghệ thuật hát và sáng tác. Quan Họ gắn liền với tục kết nghĩa, kết bạn. Trong những dịp sang trọng, khi hát Quan Họ nam mặc áo lụa, áo the, quần ống sở, khăn xếp, ô lục soạn; Quan Họ nữ thì nón thúng quai thao, mặc áo mớ bảy mở ba, áo tứ thân nhiều điều, yếm đào xẻ con nhạn, thắt lưng hoa đào, hoa lý, đeo khuyên vàng, xả tích bạc. Sáng tạo của Quan Họ dựa vào các giọng điệu thuộc các thể loại nhạc hát dân gian khác như: hát ru, hát chầu văn hay lý.
Có 213 giọng khác nhau, với hơn 400 bài ca trong các làn điệu Quan Họ. Lời một bài ca có 2 phần: lời chính và lời phụ. Lời chính là phần cốt lõi, phản ánh nội dung của lời ca. Lời phụ gồm tất cả những tiếng nằm ngoài lời ca chính, là tiếng đệm, tiếng đưa hơi như i hi, ư hư, a ha v.
Dân ca Quan Họ chủ yếu là hình thức phối lời ca dao và thơ.