Chương 1. Lý luận chung về pháp luật bảo đảm quyền có nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài Chương 2. Thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài Chương 3. Quan điểm, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền có nhà ở của ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài 6 Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM QUYỀN CÓ NHÀ Ở CỦA NGƢỜI NƢỚC NGOÀI, NGƢỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƢ TẠI NƢỚC NGOÀI 1.
Tổng quan về ngƣời nƣớc ngoài 1. Khái niệm người nước ngoài Dân cƣ là một trong những bộ phận cấu thành nên một quốc gia. Dân cƣ của một quốc gia không chỉ bao gồm công dân của nƣớc đó mà còn có ngƣời có quốc tịch nƣớc ngoài, ngƣời có hai hay nhiều quốc tịch và ngƣời không quốc tịch. Sở dĩ có tình trạng công dân của một nƣớc này lại làm ăn, sinh sống ở một nƣớc khác là do có hiện tƣợng di dân.
Trong quá trình phát triển của bất cứ quốc gia nào, sự hiện diện của ngƣời nƣớc ngoài là tất yếu và muốn hay không, các quốc gia sở tại cũng phải ban hành quy chế pháp lý để quản lý đối tƣợng này. Việc ban hành quy chế quản lý ngƣời nƣớc ngoài luôn là vấn đề nhạy cảm vì nó có mối liên hệ trực tiếp với quan hệ ngoại giao với quốc gia mà họ mang quốc tịch, với các tổ chức nhân quyền quốc tế, bởi những yêu cầu về bảo đảm những quyền tối thiểu của con ngƣời. Xuất phát từ chủ quyền quốc gia, mỗi nƣớc đều có thẩm quyền riêng biệt xác định địa vị pháp lý cho từng bộ phận dân cƣ nƣớc mình mà các quốc gia khác không có quyền can thiệp. Tùy từng giai đoạn phát triển khác nhau với những đặc điểm kinh tế văn hóa xã hội, khi ghi nhận địa vị pháp lý của cƣ dân quốc gia mình phải tôn trọng pháp luật và tập quán quốc tế.
Đối với mỗi quốc gia, ngƣời nƣớc ngoài (là ngƣời không mang quốc tịch quốc gia sở tại) đến làm ăn, sinh sống đã tất yếu trở thành bộ phận không thể thiếu trong cộng đồng dân cƣ của quốc gia đó. Vì vậy, bên cạnh các quy định pháp luật bảo đảm quyền lợi của công dân, mỗi quốc gia dều phải đối diện với nghĩa vụ quốc tế là tạo cơ sở và điều kiện để ngƣời nƣớc ngoài đƣợc hƣởng 7 chế độ pháp lý phù hợp với với sự tồn tại hợp pháp của họ trên lãnh thổ quốc gia đó. Một đặc thù quan trọng liên quan đến địa vị pháp lý của ngƣời nƣớc ngoài trên lãnh thổ quốc gia sở tại là ngƣời nƣớc ngoài không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật nƣớc này mà còn phải chịu sự điều chỉnh pháp luật của nƣớc mà họ là công dân và Luật quốc tế. Vì vậy, mỗi quốc gia không thể đơn phƣơng áp dụng quy định đối với ngƣời nƣớc ngoài nếu các quy định đó không phù hợp với thoả thuận quốc tế và ảnh hƣởng đến lợi ích của công dân và quốc gia khác.
Về nguyên tắc, quan hệ giữa các quốc gia liên quan đến dân cƣ đƣợc giải quyết theo nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và không phân biệt đối xử, trên cơ sở có đi có lại. Sự bình đẳng giữa các quốc gia thể hiện ở việc các quốc gia thỏa thuận dành cho thể nhân và pháp nhân của nhau những điều kiện và chế độ đối xử ngang bằng trong hoạt động kinh tế, thƣơng mại cũng nhƣ những lĩnh vực sinh hoạt khác. Điều này trở nên đặc biệt quan trọng cho sự thiết lập các cơ hội làm ăn, trao đổi thƣơng mại, đầu tƣ, luân chuyển tài sản của ngƣời nƣớc ngoài trong giao dịch dân sự quốc tế diễn ra trên lãnh thổ các quốc gia theo xu hƣớng tự do thƣơng mại, đặt trong điều kiện phát triển kinh tế thị trƣờng, ở phạm vi các liên kết khu vự và trên toàn cầu. Ở mức độ khái quát, có thể hiểu, ngƣời nƣớc ngoài là ngƣời không có quốc tịch nƣớc sở tại.
Quan niệm về ngƣời nƣớc ngoài ở nƣớc không đồng nhất với nhau, có nƣớc hiểu ngƣời nƣớc ngoài theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những thể nhân, có nƣớc hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là thể nhân mà còn cả các pháp nhân [14, tr. Hiện nay, khái niệm ngƣời nƣớc ngoài ở nƣớc ta đƣợc quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Theo quy định của Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cƣ trú của ngƣời nƣớc ngoài tại Việt Nam ngày 28 tháng 4 năm 2000. 8 Luật Quốc tịch năm 2008 không đƣa ra định nghĩa ngƣời nƣớc ngoài mà quy định khái niệm “ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú ở Việt Nam”, theo đó, Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nƣớc ngoài và ngƣời không quốc tịch thƣờng trú hoặc tạm trú ở Việt Nam.
Người không quốc tịch là ngƣời không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nƣớc ngoài. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là ngƣời Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ đƣợc xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cƣ trú, sinh sống lâu dài ở nƣớc ngoài. Trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành, TS. Nguyễn Hồng Bắc cho rằng, khái niệm ngƣời nƣớc ngoài có thể định nghĩa là ngƣời không có quốc tịch Việt Nam bao gồm ngƣời có quốc tịch nƣớc ngoài và ngƣời không quốc tịch [13, tr.
Nhƣ vậy, cơ sở để xác định ngƣời nƣớc ngoài dựa trên cơ sở quốc tịch mà cá nhân đó đang mang. Theo quan điểm của các nƣớc, quốc tịch thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nƣớc mà họ mang quốc tịch, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nƣớc và quyền, trách nhiệm của Nhà nƣớc đối với công dân. Đối với mỗi quốc gia, “người nước ngoài là người không có quốc tịch của nước đó. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, người nước ngoài gồm cả những người không quốc tịch.
Trong thành phần người nước ngoài có nhiều bộ phận khác nhau với những quy chế pháp lí khác nhau. Có bộ phận được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự, có bộ phận không được hưởng các quyền đó,. Quy chế pháp lí của người nước ngoài được hình thành trên cơ sở các văn bản pháp luật trong nước và cả các điều ước quốc tế do quốc gia kí kết” [32]. Một cách tiếp cận khác cho rằng, ngƣời nƣớc ngoài là “Người không mang quốc tịch của nước mà họ đang cư trú.
Tùy theo nhiệm vụ, lí do có mặt, những người nước ngoài được nước chủ nhà có những quy chế pháp lí khác 9 nhau… là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch” [33]. Ngƣời nƣớc ngoài có thể là cƣ trú hoặc thƣờng trú tại Việt Nam. Ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú ở Việt Nam “là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam” [33], ngƣời nƣớc ngoài thƣờng trú tại Việt Nam “là công dân nước ngoài và người không quốc tịch cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam” [33]. Từ đó, ta có thể định nghĩa: người nước ngoài là người có quốc tịch của một quốc gia khác đang lao động, công tác, học tập hoặc đang sinh sống trên lãnh thổ tại quốc gia sở tại.
Từ định nghĩa này, cho phép chúng ta rút ra những nhận định cơ bản sau đây: - Ngƣời nƣớc ngoài là ngƣời không mang quốc tịch ở quốc gia sở tại, họ có thể mang quốc tịch một hoặc một vài nƣớc khác hoặc không mang quốc tịch nƣớc nào. - Ngƣời nƣớc ngoài có thể cƣ trú hoặc không cƣ trú trên lãnh thổ của quốc gia sở tại. Trong nội dung Luận văn này, khái niệm ngƣời nƣớc ngoài đƣợc hiểu là ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú trên lãnh thổ Việt Nam. Đặc điểm Thứ nhất, ngƣời nƣớc ngoài là ngƣời không mang quốc tịch của quốc gia sở tại đang làm ăn sinh sống, làm việc.
Đây là dấu hiệu quan trọng để phân biệt ngƣời nƣớc ngoài với công dân quốc gia sở tại. Chế định quốc tịch hình thành từ thời kì cách mạng tƣ sản ở phƣơng Tây và ngày nay đƣợc sử dụng ở tất cả các nƣớc. Khác với chế định thần dân phong kiến, chế định quốc tịch khẳng định ngƣời dân có cả quyền chính trị và dân sự, mọi công dân đều bình đẳng trƣớc pháp luật. Tuy nhiên, nội dung và hiệu lực thực tế của các quyền chính trị và dân sự của công dân tuỳ thuộc vào 10 bản chất giai cấp của nhà nƣớc, của chế độ kinh tế - xã hội.
Việc có và mất quốc tịch của nhà nƣớc nào phải do pháp luật của nhà nƣớc đó quy định. Theo thực tiễn và pháp luật của các nƣớc, một ngƣời có quốc tịch của một nhà nƣớc có thể do huyết thống, do nơi sinh, do xin vào quốc tịch, trở lại quốc tịch cũ, do quy định của điều ƣớc quốc tế, vv. Quốc tịch thể hiện “mối liên hệ pháp lí đặc biệt bền vững và ổn định giữa một cá nhân và một nhà nước nhất định. Người mang quốc tích của nhà nước nào là công dân của nhà nước đó.
Công dân được hưởng các quyền chính trị, quyền tự do và các quyền dân sự, đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng do pháp luật của nhà nước mình quy định. Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mình, kể cả trường hợp công dân đó thường trú hay tạm trú ở nước ngoài” [32]. Nhƣ vậy, nếu nhƣ công dân là ngƣời dân của một nƣớc có chủ quyền thể hiện mối quan hệ pháp lí bền vững giữa nhà nƣớc và cá nhân là ngƣời có quốc tịch của một quốc gia cụ thể, có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Quyền và nghĩa vụ công dân thể hiện quan hệ lợi ích giữa nhà nƣớc và cá nhân đƣợc Nhà nƣớc bảo hộ các quyền tham gia quản lí công việc của nhà nƣớc và của xã hội, có quyền bầu cử và ứng cử, quyền lao động, quyền học tập, nghỉ ngơi, quyền tự do ngôn luận, tự do hôn nhân, tự do tín ngƣỡng, có quyền đƣợc pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm, quyền khiếu nại, tố cáo.