Tổng quan nghiên cứu

Khu vực ven bờ miền Trung Việt Nam chịu tác động khốc liệt của chế độ thủy động lực biển, đặc biệt là hiện tượng bồi xói dải ven duyên. Cửa biển Thuận An thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế đóng vai trò là cửa ngõ giao thông thủy huyết mạch nối hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai với Biển Đông. Vùng cửa này có chiều rộng khoảng 350m, chiều dài 600m và độ sâu luồng lớn nhất đạt trên 15m. Đây vừa là tuyến luồng chính dẫn vào cảng Thuận An, vừa giữ chức năng tiêu thoát lũ quan trọng trong mùa mưa bão cho toàn bộ lưu vực sông Hương.

Trước năm 2008, tình trạng xói lở bờ biển tại khu vực diễn ra ở mức báo động. Khu vực bờ biển xã Hải Dương ở phía bắc cửa bị xói lở với cường độ lên tới 10m/năm, trong khi khu vực bờ biển Thuận An - Phú Thuận ở phía nam cửa bị sạt lở từ 5m đến 6m/năm, đe dọa trực tiếp đến tính mạng của hàng nghìn hộ dân và làm suy thoái nghiêm trọng bãi tắm du lịch. Nhằm ứng phó khẩn cấp, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã phê duyệt dự án chỉnh trị và xây dựng hệ sinh thái kè chống xói lở giai đoạn 1 từ đầu năm 2008 đến cuối năm 2010.

Mục tiêu cốt lõi của đề tài là phân tích cơ chế tương tác giữa sóng và dòng chảy, định lượng quá trình vận chuyển trầm tích và mô phỏng chi tiết biến động địa hình đáy biển vùng lân cận cửa Thuận An sau khi xây dựng công trình kè. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá hiệu quả thực tế của công trình giai đoạn 1, làm căn cứ đề xuất các giải pháp công trình và phi công trình trong giai đoạn tiếp theo nhằm giảm thiểu bồi lấp luồng tàu và xói lở bờ biển.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề tài áp dụng hệ thống mô hình toán Surface-water Modeling System (SMS) với hai mô đun tính toán chuyên sâu kết nối hai chiều là CMS-Flow và CMS-Wave. Khung lý thuyết bao gồm phương trình cân bằng tác động sóng dạng phổ 2 chiều của Mase (2001), kết hợp phương trình chuyển động và liên tục tích phân theo độ sâu 2DH cho dòng chảy nước nông giải bằng phương pháp thể tích hữu hạn. Các hiện tượng vật lý chính được lượng hóa bao gồm sóng đổ theo tiêu chuẩn Miche (1951), tổn thất năng lượng do ma sát đáy theo Collins (1972), hiệu ứng nhiễu xạ sóng qua đầu kè với hệ số K bằng 4, và tương tác Doppler giữa sóng với dòng chảy theo Jonsson (1990).

Quá trình vận chuyển bùn cát đáy và lơ lửng được mô hình hóa theo bộ công thức Lund-CIRP của Camenen và Larson (2005, 2006). Cơ chế dịch chuyển trầm tích đáy tính toán dựa trên ứng suất tiếp tuyến tổng hợp từ trường sóng và dòng chảy theo mô hình Nishimura (1988), kết hợp tham số Shields tới hạn. Sự biến đổi cao độ đáy biển theo thời gian được xác định thông qua phương trình cân bằng khối lượng trầm tích liên tục và phương trình bình lưu - khuếch tán nồng độ hạt lơ lửng trung bình tầng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng chuỗi dữ liệu thực địa đa dạng thu thập từ 12 đợt khảo sát trắc đạc giai đoạn từ tháng 01/2007 đến tháng 06/2012 trong khuôn khổ dự án hợp tác Việt Nam - Thụy Điển (VSWDE-03). Dữ liệu khí tượng tái phân tích từ NCEP với độ phân giải không gian 0.5 độ trong khoảng thời gian 20 năm được đưa vào mô hình SWAN để tính toán trường sóng nước sâu ngoài khơi, sau đó hiệu chỉnh bằng số liệu quan trắc thực tế tại trạm mỏ Bạch Hổ (MSP-1) trong giai đoạn tháng 10 đến tháng 12 năm 2002 cùng các cơn bão mạnh như Linda và Frankie.

Hệ thống lưới tính được thiết lập tối ưu: mô đun CMS-Wave sử dụng lưới chữ nhật kích thước 15.000m x 12.000m với 300 x 480 ô lưới kích thước 25m x 50m, xoay góc 240 độ song song với đường đẳng sâu. Mô đun CMS-Flow sử dụng lưới phi điều hòa với ô lưới mịn nhất 25m x 25m tại chân công trình và giãn nở theo hệ số 1.01 đến ô lớn nhất 100m x 100m ngoài khơi. Mô hình được kiểm chuẩn thủy động lực thông qua chuỗi đo đạc đồng bộ liên tục 24 giờ từ 10 giờ ngày 21/4 đến 10 giờ ngày 22/4/2007 tại các tầng mặt, tầng giữa và tầng đáy, đảm bảo điều kiện ổn định Courant nhỏ hơn 1 với bước thời gian ghép nối định kỳ 3 giờ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình mô phỏng số trị kết hợp phân tích đối sánh tài liệu thực địa đã làm sáng tỏ các quy luật động lực học trầm tích tại cửa Thuận An:

Thứ nhất, hệ thống đê kè chắn sóng phía bờ bắc thuộc xã Hải Dương với tổ hợp tuyến kè S1 và S2 dài 615m cùng tuyến đê B dài 624m đã tạo nên vùng đệm khép kín hoàn toàn. Cấu trúc này triệt tiêu 100% tác động trực tiếp của sóng biển hướng Đông Bắc và dòng chảy ven bờ, giúp bờ biển Hải Dương chấm dứt hoàn toàn hiện tượng sạt lở 10m/năm từng diễn ra trước đó.

Thứ hai, tuyến kè mỏ hàn phía bờ nam dài 325m bố trí xiên góc 24.36 độ so với hướng bắc đã ngăn chặn hiệu quả dòng vận chuyển bùn cát dọc bờ theo hướng nam - bắc. Khu vực bãi biển Thuận An ngay phía nam kè đã chuyển từ trạng thái xói lở 5m/năm sang xu thế bồi tụ rõ rệt, bãi cát được tôn cao và mở rộng hàng chục mét ra phía biển.

Thứ ba, trường dòng chảy trong khu vực cửa biến đổi phức tạp theo chu kỳ bán nhật triều với biên độ dao động mực nước trung bình 0.25m. Tốc độ dòng triều cực đại tại lạch sâu đạt trên 1.2 m/s trong pha triều rút, kết hợp với trường sóng gây nên hiện tượng xói lở cục bộ ở lòng dẫn phía trong cửa.

Thứ tư, kết quả chạy mô phỏng 30 ngày cho 6 kịch bản hướng sóng từ 330 độ đến 150 độ cho thấy hướng sóng Đông và Đông Bắc (chiếm hơn 90% tần suất năm) tạo ra cường độ vận chuyển trầm tích lớn nhất. Sự hội tụ của bùn cát tại luồng chạy tàu hình thành các cồn cát ngầm di động với cao độ bồi lắng từ 0.5m đến trên 2.0m, làm suy giảm nghiêm trọng độ sâu chuẩn tắc luồng hàng hải.

Thảo luận kết quả

Các kết quả tính toán có thể được trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ biến động trắc dọc đáy biển tại 5 mặt cắt đặc trưng và bảng tổng hợp khối lượng bùn cát bồi xói sau chu kỳ 30 ngày. Trên biểu đồ trắc diện đáy, mặt cắt số 1 và số 2 ở phía bắc thể hiện sự ổn định tương đối nhờ hiệu ứng che chắn của đê kè Hải Dương. Ngược lại, tại mặt cắt số 3, 4 và 5 cắt qua luồng tàu và bờ nam, đường biểu diễn cao độ đáy sau 30 ngày cho thấy sự phân hóa sâu sắc giữa hai hố xói sâu cục bộ tại chân kè mỏ hàn và các đỉnh bồi tụ cao tại trung tâm lạch triều.

Hiện tượng bồi lấp luồng hàng hải xuất phát từ nguyên nhân bùn cát sau khi bị chặn lại ở phía nam kè mỏ hàn đã đi vòng qua mũi kè dưới tác dụng của sóng nhiễu xạ và dòng chảy ven, sau đó lắng đọng vào vùng nước lặng giữa luồng tàu. Đối chiếu với không ảnh vệ tinh và khảo sát thực địa tháng 6/2012, vị trí các bãi cát ngầm xuất hiện hoàn toàn trùng khớp với vùng dự báo bồi tụ trên mô hình tính toán CMS-Flow. Điều này khẳng định công trình giai đoạn 1 đã giải quyết tốt mục tiêu chống xói lở bờ biển cục bộ, nhưng làm phát sinh bài toán bồi lấp luồng hàng hải cần được xử lý trong giai đoạn tiếp theo.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô phỏng và thực trạng thủy động lực học tại cửa Thuận An, các giải pháp sau được đề xuất triển khai:

Thứ nhất, quy hoạch và thực hiện nạo vét định kỳ luồng hàng hải ra vào cảng Thuận An với tần suất từ 1 đến 2 lần/năm, mục tiêu duy trì độ sâu chuẩn tắc luồng từ 4.5m đến 6.0m phục vụ an toàn cho tàu thuyền trọng tải 1.000 đến 2.000 DWT. Hoạt động này do Cục Hàng hải Việt Nam và Ban Quản lý Cảng Thuận An phối hợp chủ trì thực hiện.

Thứ hai, kéo dài tuyến kè mỏ hàn bờ nam thêm khoảng 150m đến 200m hoặc bổ sung hệ thống đê chắn cát ngầm ngoài cửa biển nhằm chuyển hướng luồng bùn cát di chuyển ra xa lạch chạy tàu, mục tiêu cắt giảm từ 35% đến 40% lượng trầm tích bồi lắng vào cửa. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cần chỉ đạo lập báo cáo khả thi công trình trong lộ trình từ 2 đến 3 năm.

Thứ ba, thiết lập hệ thống quan trắc tự động liên tục bao gồm 2 trạm đo sóng - mực nước biển ven bờ và 1 thiết bị đo dòng chảy Doppler (ADCP) đo đạc 3 tầng nước tại cửa Thuận An với chu kỳ truyền dữ liệu 15 đến 30 phút/lần nhằm cập nhật liên tục cơ sở dữ liệu động lực biển phục vụ công tác dự báo.

Thứ tư, ứng dụng mô hình số trị CMS kết nối thời gian thực tại Chi cục Biển và Hải đảo tỉnh nhằm dự báo trước 72 giờ biến động bồi xói đáy biển và nguy cơ mất an toàn luồng lạch trước mỗi đợt áp thấp nhiệt đới hoặc bão đổ bộ, phấn đấu đạt độ chính xác dự báo trên 85%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Kỹ sư công trình thủy và chuyên gia chỉnh trị bờ sông, bờ biển: Nắm bắt phương pháp tính toán tương tác sóng - dòng chảy và ứng dụng kết cấu kè mỏ hàn 325m, đê chắn sóng 615m trong điều kiện bờ biển miền Trung nhiều biến động.
  2. Cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp khai thác cảng biển: Sử dụng các số liệu dự báo bồi lắng và xói lở để xây dựng kế hoạch duy tu luồng chạy tàu, tối ưu hóa ngân sách nạo vét hàng năm cho cảng Thuận An và khu vực phá Tam Giang.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Hải dương học, Kỹ thuật bờ biển: Tiếp cận quy trình xây dựng lưới tính phi điều hòa từ 25m đến 100m, kỹ thuật ghép nối 2 chiều giữa mô hình sóng CMS-Wave và dòng chảy CMS-Flow.
  4. Chuyên gia tư vấn đánh giá tác động môi trường ven biển: Khai thác phương pháp phân tích diễn biến đường bờ từ 12 đợt đo đạc GPS và viễn thám để phục vụ công tác quy hoạch không gian biển bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình CMS-Flow và CMS-Wave có ưu điểm gì nổi bật khi tính toán vùng cửa Thuận An?

Hệ thống mô hình cho phép kết nối tương tác hai chiều với chu kỳ trao đổi dữ liệu 3 giờ trên lưới tính chi tiết 25m. CMS-Wave tính toán chính xác phổ sóng khúc xạ, nhiễu xạ và sóng vỡ, trong khi CMS-Flow giải quyết đồng thời dòng chảy triều, ứng suất bức xạ sóng và vận chuyển trầm tích lơ lửng lẫn bùn cát di đáy theo công thức Lund-CIRP.

Vì sao hệ thống kè bờ bắc Hải Dương lại được xây dựng theo kết cấu đê bao khép kín dài trên 600m?

Trước năm 2008, bờ biển xã Hải Dương bị xói lở nghiêm trọng với cường độ lên tới 10m/năm. Tổ hợp hai đoạn kè S1, S2 dài 615m và tuyến đê B dài 624m xếp thành hình tam giác cân khép kín giúp cách ly hoàn toàn vùng bờ bên trong khỏi tác động trực tiếp của sóng bão và dòng chảy dọc bờ, bảo vệ an toàn tuyệt đối cho khu dân cư.

Tuyến kè mỏ hàn bờ nam dài 325m đã làm biến đổi bãi biển Thuận An ra sao?

Kè mỏ hàn bờ nam dài 325m vươn vuông góc ra biển đã chặn đứng dòng bùn cát dọc bờ di chuyển từ nam lên bắc. Dưới tác dụng che chắn sóng, khu vực bờ biển Thuận An chuyển từ trạng thái xói lở 5m đến 6m/năm sang bồi tụ mạnh mẽ, giúp nâng cao độ đáy và bồi rộng diện tích bãi tắm du lịch.

Dữ liệu thực địa nào được sử dụng để hiệu chỉnh và kiểm chuẩn mô hình số trị?

Nghiên cứu sử dụng số liệu từ 12 đợt khảo sát trắc đạc trong dự án VSWDE-03 từ năm 2007 đến năm 2012, chuỗi đo đạc thủy động lực liên tục 24 giờ ngày 21 và 22/4/2007 tại 3 tầng nước ở trạm V, cùng dữ liệu sóng trạm MSP-1 mỏ Bạch Hổ giai đoạn 10 đến 12/2002 để kiểm chứng sóng bão.

Kết quả tính toán 30 ngày cho các kịch bản hướng sóng mang lại ý nghĩa gì?

Mô hình đã mô phỏng biến động bồi xói tại 5 mặt cắt đáy biển dưới 6 dải góc truyền sóng từ 330 độ đến 150 độ. Kết quả chỉ ra các đợt sóng hướng Đông và Đông Bắc từ 60 độ đến 90 độ gây bồi lấp luồng chạy tàu mạnh nhất với cao độ bồi tụ từ 0.5m đến hơn 2.0m, cung cấp căn cứ trực tiếp để thiết kế tuyến luồng chỉnh trị tiếp theo.

Kết luận

  1. Luận văn đã thiết lập thành công mô hình toán ghép nối 2 chiều CMS-Flow và CMS-Wave trên lưới tính phi điều hòa có độ phân giải cao từ 25m đến 100m cho vùng cửa biển Thuận An.
  2. Công trình chỉnh trị giai đoạn 1 với kè Hải Dương dài 615m và kè Thuận An dài 325m đã triệt tiêu hoàn toàn xói lở bờ biển với tốc độ từ 5m đến 10m/năm trước đây.
  3. Nghiên cứu đã định lượng hóa hiện tượng bồi lấp luồng hàng hải sau 30 ngày mô phỏng, chỉ ra sự xuất hiện các bãi cát ngầm dày từ 0.5m đến trên 2.0m dưới tác động của sóng Đông Bắc.
  4. Chuỗi số liệu từ 12 đợt quan trắc thực địa giai đoạn 2007 - 2012 và dữ liệu thủy động lực 24 giờ liên tục đã chứng minh độ tin cậy và mức độ phù hợp cao của mô hình số trị.
  5. Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan chức năng cần triển khai nạo vét duy tu luồng định kỳ 1 đến 2 lần/năm và nghiên cứu nối dài kè mỏ hàn thêm 150m để bảo vệ toàn diện cửa biển. Hãy tiếp tục khai thác và ứng dụng kết quả của luận văn vào công tác quy hoạch phát triển bền vững dải ven biển Thừa Thiên Huế.