Luận văn bác sĩ nội trú: Đặc điểm xuất huyết ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của tình trạng xuất huyết và các yếu tố nguy cơ liên quan ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.

Trường đại học

Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nhi khoa

Tác giả

Ong Thị Nga

Thể loại

Luận văn bác sĩ nội trú

2024

97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan xuất huyết ở trẻ sơ sinh tại BV Trung ương Thái Nguyên

Xuất huyết sơ sinh là biến chứng lâm sàng nguy hiểm. Tình trạng này phản ánh sự tổn thương thành mạch hoặc rối loạn cơ chế đông máu. Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên tiếp nhận nhiều ca bệnh sơ sinh nặng từ tuyến dưới. Nghiên cứu thực hiện trên 139 trẻ điều trị tại khoa Sơ sinh cho thấy tỷ lệ bệnh lý rất đáng chú ý. Nhóm bệnh nhân gồm 73 trẻ sinh non và 66 trẻ sinh đủ tháng. Khả năng đông máu ở trẻ sơ sinh chưa hoàn thiện. Hệ thống mạch máu của trẻ non tháng rất mỏng manh. Áp lực tuần hoàn thay đổi đột ngột dễ gây vỡ mạch. Triệu chứng xuất huyết có thể xuất hiện tại nhiều cơ quan. Phổ biến nhất là xuất huyết não, xuất huyết phổi và xuất huyết tiêu hóa. Thiếu hụt vitamin K và giảm tiểu cầu là những nguyên nhân nền tảng thường gặp. Việc phát hiện sớm dấu hiệu chảy máu giúp giảm tỷ lệ tử vong đáng kể. Quá trình theo dõi sát dấu hiệu sinh tồn đóng vai trò quyết định. Đánh giá lâm sàng chuẩn xác tạo nền tảng cho can thiệp y khoa kịp thời.

1.1. Thực trạng xuất huyết sơ sinh tại bệnh viện

Tỷ lệ xuất huyết sơ sinh ghi nhận tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên phản ánh tính chất nghiêm trọng của nhóm bệnh lý cấp tính. Trẻ nhập viện thường mang nhiều bệnh lý phối hợp phức tạp. Nghiên cứu thực tế trên 139 trẻ chỉ ra sự phân bố đa dạng giữa trẻ non tháng và đủ tháng. Trẻ non tháng chiếm 52,5% tổng số bệnh nhân được khảo sát. Các tổn thương thành mạch xảy ra nhanh chóng do cấu trúc mạch máu chưa phát triển hoàn chỉnh. Bệnh cảnh lâm sàng thường khởi phát đột ngột với nhiều mức độ khác nhau. Bác sĩ cần nhận diện sớm dấu hiệu xuất huyết để hạn chế tối đa nguy cơ suy tuần hoàn.

1.2. Phân loại hình thái xuất huyết lâm sàng

Hình thái xuất huyết ở trẻ sơ sinh diễn ra ở nhiều vị trí giải phẫu. Xuất huyết nội sọ là dạng tai biến nặng nề nhất đối với hệ thần kinh. Tình trạng này hay gặp ở trẻ sinh non có cân nặng thấp. Ngoài ra, xuất huyết phổi gây suy hô hấp cấp diễn biến nguy kịch. Xuất huyết tiêu hóa biểu hiện qua triệu chứng ọc máu hoặc phân đen. Chảy máu dưới da và niêm mạc là dấu hiệu cảnh báo rối loạn đông máu toàn thân. Mỗi hình thái phản ánh cơ chế bệnh sinh và mức độ tổn thương riêng biệt. Việc phân loại chính xác từng dạng xuất huyết hỗ trợ thiết lập chiến lược điều trị chuyên biệt cho bệnh nhi.

II. Phân tích nguy cơ xuất huyết sơ sinh tại BV Trung ương Thái Nguyên

Nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên làm rõ nhiều yếu tố nguy cơ quan trọng. Tuổi thai non tháng là yếu tố then chốt dẫn đến chảy máu bất thường. Thành mạch của trẻ non tháng có cấu trúc lưới mao mạch mầm rất mỏng. Tình trạng này dễ vỡ khi huyết áp dao động. Quá trình chuyển dạ kéo dài trên 12 giờ gây áp lực cơ học lớn lên thai nhi. Việc sử dụng thủ thuật hỗ trợ sinh như forceps hoặc giác hút làm gia tăng tổn thương mô mềm và sọ não. Phương thức sinh mổ hay sinh thường đều mang những rủi ro nhất định đối với hệ huyết học. Bên cạnh đó, các rối loạn chuyển hóa góp phần làm nặng thêm bệnh cảnh. Tỷ lệ hạ glucose máu ở trẻ xuất huyết chiếm 45,3%. Giảm albumin huyết thanh xuất hiện ở 36,7% tổng số bệnh nhi. Cả hai chỉ số này đều thấp hơn rõ rệt ở nhóm trẻ sinh non so với trẻ đủ tháng. Khoảng 21,6% trẻ ghi nhận giảm nồng độ hemoglobin. Sự suy giảm các chỉ số sinh hóa và huyết học này làm chậm quá trình cầm máu tự nhiên.

2.1. Tác động từ tuổi thai và cân nặng sơ sinh

Tuổi thai thấp đóng vai trò nguyên nhân hàng đầu trong cơ chế xuất huyết sơ sinh. Trẻ sinh non có hệ thống mao mạch não kém bền vững. Lớp tế bào nội mô mạch máu lỏng lẻo dễ nứt rách trước sự thay đổi huyết áp. Gan chưa trưởng thành làm giảm khả năng tổng hợp các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K. Cân nặng khi sinh càng thấp thì nguy cơ chảy máu nặng càng cao. Các đợt thiếu oxy não cục bộ thường xuyên kích hoạt phản ứng viêm mạch máu. Hậu quả là hình thành ổ xuất huyết nhu mô não hoặc xuất huyết khoang dưới nhện. Trẻ non tháng cần được giám sát liên tục để phòng ngừa biến cố tuần hoàn.

2.2. Ảnh hưởng của quá trình chuyển dạ và sinh nở

Quá trình sinh nở tác động trực tiếp đến tính toàn vẹn mạch máu của trẻ sơ sinh. Thời gian chuyển dạ kéo dài gây thiếu oxy thai nhi kéo dài. Hiện tượng này làm tăng tính thấm mao mạch và phù não. Khi kết hợp sinh khó, nhân viên y tế phải can thiệp dụng cụ trợ sinh. Lực kéo từ giác hút hoặc forceps có thể gây rách tĩnh mạch màng não. Các ca sinh mổ cấp cứu do suy thai cũng ghi nhận tỷ lệ rối loạn huyết động đáng kể. Ngoài ra, việc xử trí kẹp dây rốn và hồi sức sau sinh ảnh hưởng lớn đến lượng máu tuần hoàn. Mọi sang chấn chu sinh đều nâng cao khả năng bùng phát xuất huyết.

III. Giải pháp điều trị xuất huyết sơ sinh ở BV Trung ương Thái Nguyên

Chiến lược xử trí xuất huyết sơ sinh đòi hỏi quy trình tiếp cận nhanh và toàn diện. Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên áp dụng đồng bộ các phác đồ hồi sức nhi khoa chuyên sâu. Mục tiêu cốt lõi là kiểm soát chảy máu, ổn định huyết động và bảo vệ tế bào não. Nhân viên y tế tiến hành tiêm bắp vitamin K1 ngay sau sinh cho mọi trẻ có nguy cơ cao. Khi phát hiện biến cố mất máu, việc truyền huyết tương tươi đông lạnh giúp bổ sung đầy đủ các yếu tố đông máu. Khối hồng cầu được chỉ định khi chỉ số hemoglobin hạ thấp dưới ngưỡng an toàn. Truyền tiểu cầu áp dụng cho các trường hợp xuất huyết có giảm tiểu cầu nặng. Đồng thời, việc điều chỉnh đường huyết và cân bằng điện giải là cực kỳ cấp thiết. Trẻ được truyền dung dịch glucose để cải thiện tình trạng hạ glucose máu thường gặp. Albumin được bù phụ hợp lý nhằm duy trì áp lực keo nội mạch. Chế độ chăm sóc nhẹ nhàng tại lồng ấp giúp giảm thiểu tối đa kích thích cơ học đối với hệ thần kinh.

3.1. Phác đồ sử dụng chế phẩm máu và vitamin K

Bổ sung chế phẩm máu là liệu pháp can thiệp then chốt trong cấp cứu sơ sinh. Vitamin K1 được sử dụng với liều lượng chuẩn xác ngay khi phát hiện rối loạn đông máu. Phương pháp này kích thích gan tổng hợp các phức hợp đông máu đang bị thiếu hụt. Truyền huyết tương tươi đông lạnh giúp khôi phục các chỉ số PT và APTT về ngưỡng bình thường. Khối hồng cầu được truyền chậm theo tỷ lệ thể trọng để bù lượng máu mất do xuất huyết ồ ạt. Truyền khối tiểu cầu áp dụng khi số lượng tiểu cầu giảm sâu dưới mức cảnh báo. Việc lựa chọn chế phẩm máu phù hợp giúp ngăn chặn diễn tiến nặng của tình trạng chảy máu.

3.2. Kiểm soát chuyển hóa và bảo vệ huyết động

Ổn định các chỉ số sinh hóa đóng vai trò cốt lõi trong phục hồi chức năng tuần hoàn. Nồng độ glucose máu cần được theo dõi định kỳ bằng máy đo đường huyết mao mạch. Dung dịch glucose ưu trương được truyền tĩnh mạch nhằm đưa đường huyết trở về ngưỡng bình thường. Bù albumin huyết thanh giúp cải thiện tình trạng phù nề mô và duy trì áp lực thẩm thấu lòng mạch. Nhân viên y tế chú trọng điều hòa thân nhiệt trong lồng ấp kín để tránh hạ nhiệt độ cơ thể. Huyết áp động mạch được duy trì ổn định bằng các dung dịch vận mạch khi cần. Môi trường yên tĩnh giúp giảm stress huyết động cho bệnh nhi sơ sinh.

IV. Kết luận về xuất huyết sơ sinh tại BV Trung ương Thái Nguyên

Xuất huyết sơ sinh là một cấp cứu nội nhi phức tạp với tỷ lệ mắc bệnh đáng kể. Nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên cung cấp dữ liệu dịch tễ học và lâm sàng xác thực. Các kết quả khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa tuổi thai, sang chấn chuyển dạ và nguy cơ chảy máu. Trẻ sơ sinh non tháng là đối tượng chịu tổn thương nặng nề nhất về huyết học và chuyển hóa. Tỷ lệ suy giảm glucose và albumin máu ở nhóm sinh non đòi hỏi quy trình theo dõi đặc biệt nghiêm ngặt. Việc nhận biết sớm các biểu hiện xuất huyết giúp hạn chế tổn thương não không hồi phục. Chiến lược dự phòng chủ động bằng tiêm vitamin K sau sinh mang lại hiệu quả vượt trội. Bên cạnh đó, phối hợp chặt chẽ giữa chuyên khoa Sản và chuyên khoa Sơ sinh giúp kiểm soát tốt các nguy cơ chu sinh. Nâng cao năng lực hồi sức cấp cứu tại bệnh viện góp phần giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh trên toàn vùng.

4.1. Khuyến nghị dự phòng xuất huyết sớm

Dự phòng xuất huyết sơ sinh là nguyên tắc bắt buộc trong quy trình chăm sóc sản khoa. Tất cả trẻ sinh ra cần được tiêm phòng vitamin K1 ngay tại phòng sinh theo hướng dẫn y tế. Các sản phụ có dấu hiệu chuyển dạ kéo dài cần được theo dõi tim thai liên tục bằng monitoring sản khoa. Hạn chế tối đa các thủ thuật sinh can thiệp bằng giác hút hoặc forceps khi chưa có chỉ định bắt buộc. Trẻ sinh non cần được chuyển vào khu chăm sóc sơ sinh đặc biệt ngay sau sinh. Quy trình ủ ấm và hồi sức sơ sinh nhẹ nhàng giúp ổn định vi tuần hoàn mạch máu. Dự phòng tích cực giúp loại bỏ hầu hết các biến chứng chảy máu nguy hiểm.

4.2. Ứng dụng theo dõi chỉ số cận lâm sàng

Xét nghiệm cận lâm sàng cung cấp bằng chứng tin cậy để đánh giá mức độ xuất huyết. Các bác sĩ cần kiểm tra công thức máu và đông máu toàn bộ ngay khi trẻ có biểu hiện bất thường. Xét nghiệm định lượng hemoglobin hỗ trợ xác định chính xác lượng máu mất trong các đợt chảy máu kín đáo. Theo dõi đường máu và albumin huyết thanh giúp phát hiện sớm biến chứng suy kiệt tế bào ở trẻ non tháng. Siêu âm qua thóp là công cụ chẩn đoán hình ảnh đắc lực để sàng lọc xuất huyết não sơ sinh. Việc kết hợp chặt chẽ giữa thăm khám lâm sàng và theo dõi cận lâm sàng giúp tối ưu hóa kết quả điều trị bệnh nhi.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/10/2026
Đặc điểm xuất huyết và một số yếu tố nguy cơ ở trẻ sơ sinh tại bệnh viện trung ương thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. Định nghĩa về trẻ sơ sinh Thời kỳ sơ sinh: tính từ khi trẻ ra đời cho đến hết tuần thứ 4 sau đẻ - Sơ sinh đủ tháng: là trẻ có tuổi thai đã phát triển trong tử cung 9 tháng 10 ngày hoặc 37 đến 42 tuần hoặc 278 ngày ± 15 ngày tính từ ngày đầu của kỳ kinh cuối7. - Trẻ sơ sinh non tháng: là trẻ ra đời trước thời hạn bình thường trong tử cung, có tuổi thai dưới 37 tuần hoặc cân nặng ít nhất 500 gram và có khả năng sống được7. Phân loại trẻ sơ sinh * Theo tuổi thai: Sơ sinh đủ tháng: từ 37 - 42 tuần thai (259 – 294 ngày).

Sơ sinh non tháng: ít hơn 37 tuần thai (258 ngày). Trong đó: Non tháng muộn (Late preterm): 34 đến dưới 37 tuần Non tháng vừa (Moderate preterm): Từ 32 đến dưới 34 tuần Rất non tháng (Very preterm): từ 28 đến dưới 32 tuần Cực non tháng (Extremely preterm): dưới 28 tuần Sơ sinh già tháng: trên 42 tuần thai (294 ngày). Tính ngày tuổi thai từ ngày thứ nhất của chu kỳ kinh cuối. Ngày thụ thai được cho là khoảng 2 tuần sau ngày thứ nhất của chu kỳ kinh cuối.

* Theo cân nặng lúc sinh: Sơ sinh sinh bình thường khi cân nặng lúc đẻ từ 2500 - 3500 gram. Sơ sinh nhẹ cân khi cân nặng lúc đẻ < 2500 gram. Đặc điểm đông cầm máu ở trẻ sơ sinh Hệ thống cầm máu ở trẻ sơ sinh được coi là chưa trưởng thành trong những 4 tuần đầu tiên và tháng đầu đời với hầu hết các thông số cầm máu đạt đến giá trị của người trưởng thành khi được 6 tháng tuổi. Ở trẻ sơ sinh hệ thống cầm máu, đông máu không hoàn toàn giống với trẻ lớn và người lớn, nên trẻ rất dễ xảy ra các rối loạn cầm máu, đông máu khi có các tác nhân kích thích như vi khuẩn và độc tố của vi khuẩn.

Mạch máu Mao mạch mỏng manh hơn, do đó rất dễ bị tổn thương khi nó các tác nhân kích thích như vi khuẩn và độc tố vi khuẩn. Mạch máu bị tổn thương sẽ bộc lộ các tổ chức dưới nội mạc như collagen, màng nền, vi sợi. là những yếu tố phát động dính và ngưng tập tiểu cầu khởi đầu cho một rối loạn cầm máu, đông máu hết sức rầm rộ. Tế bào nội mô phóng thích nhiều chất: tác động đến tiểu cầu (như prostaglandin I2, adenosin diphotphat), khởi động đông máu (collagen, fibrinectin, yếu tố Von Willebrand…) hòa tan fibrin, xúc tác ức chế thrombin, và ức chế khởi động hòa tan fibrin8.

Sản sinh prostacyclin tăng8. Tiểu cầu Tiểu cầu là những tế bào không nhân, được sản sinh từ mẫu tiểu cầu, bắt đầu từ gan của thai nhi, sau đó từ tủy xương ở cuối thời kỳ thai nhi. Sau khi sinh, tiểu được sinh ra từ mẫu tiểu cầu trong tủy xương. Đời sống của tiểu cầu là 7 - 10 ngày.

Tiểu cầu có nhiều chức năng trong cầm máu, là thành phần quan trọng trong giai đoạn cầm máu ban đầu, hình thành các nút tiểu cầu8. Quá trình sản sinh tiểu cầu: Tiểu cầu đã bắt đầu xuất hiện ở bào thai người vào khoảng tuần thứ 5 sau thụ tinh và tăng về số lượng trong suốt thời kỳ phôi thai, đạt được giá trị trung bình là 150 G/L vào cuối tháng thứ 3 của thai kỳ và đạt được giá trị giới hạn bình thường của người lớn vào tuần thứ 22 của thai8,9. Số lượng tiểu cầu nói chung ít thay đổi, trẻ sơ sinh số lượng tiểu cầu 150 5 - 400 x 109/L. Mặc dù số lượng tiểu cầu ở trẻ sơ sinh và người lớn tương tự nhau nhưng có sự khác biệt đáng kể trong quá trình phát triển liên quan đến chức năng tiểu cầu.

Một số nghiên cứu đã kiểm tra mức độ phản ứng của tiểu cầu ở trẻ sơ sinh non tháng cho thấy rằng tình trạng giảm phản ứng tiểu cầu rõ rệt hơn ở trẻ sinh non so với những trẻ sinh đủ tháng. Chức năng tiểu cầu ở trẻ sơ sinh (được đo bằng phương pháp hoạt hóa tiểu cầu bằng tế bào học dòng chảy) cải thiện đáng kể sau khi sinh và gần như bình thường sau 10 - 14 ngày10,11. Hệ thống đông máu huyết tương Ngoài sự khác nhau về tiểu cầu và đặc điểm thành mạch còn có sự khác biệt đáng kể giữa hệ thống đông máu của trẻ sơ sinh và trẻ lớn cũng như người lớn. Trong mô hình đông máu cổ điển, các yếu tố đông máu tương tác và trải qua một loạt các phản ứng enzyme thông qua con đường kích hoạt tiếp xúc (nội sinh) và yếu tố mô (ngoại sinh), hội tụ tại một con đường chung cuối cùng mà đỉnh điểm là hình thành thrombin.

Các yếu tố đông máu không qua nhau thai do kích thước của chúng và được sản xuất ở thai nhi bắt đầu từ tuần thứ 11 của thai kỳ. Mức độ của hầu hết các yếu tố đông máu đều tăng trong thời kỳ mang thai và sau khi sinh, do đó thấp hơn ở trẻ sinh non so với trẻ sơ sinh đủ tháng và ở trẻ sơ sinh đủ tháng thấp hơn so với trẻ lớn và người lớn. Ở trẻ đủ tháng, mức độ của hầu hết các yếu tố đông máu (đặc biệt là các yếu tố phụ thuộc vitamin K) là 50% mức của người lớn và tăng lên giá trị gần như của người lớn khi được 6 tháng tuổi12,13. Hoạt động của các yếu tố phụ thuộc vitamin K còn giảm hơn nữa ở trẻ sinh non, xuống còn khoảng 30% ở trẻ mang thai 24 - 29 tuần.

Ngược lại với các yếu tố phụ thuộc vitamin K, trẻ sơ sinh có nồng độ yếu tố VIII, yếu tố XIII và fibrinogen bình thường, đồng thời nồng độ vWF tăng cao14. 6 Nhận biết được những khác biệt trong quá trình phát triển về mức độ hoạt động của các yếu tố đông máu khác nhau là điều cần thiết để giải thích đầy đủ các kết quả xét nghiệm ở trẻ sơ sinh. Vì những lí do trên mà trẻ sơ sinh bị hạn chế trong việc đối phó với các tác nhân gây rối loạn đông máu từ đó dễ có những xuất huyết. Đặc điểm xuất huyết ở trẻ sơ sinh 1.

Vị trí xuất huyết Xuất huyết ở trẻ sơ sinh có thể biểu hiện bởi một hay nhiều triệu chứng sau: xuất huyết nội sọ, chảy máu phổi, xuất huyết tiêu hóa, chảy máu rốn hay xuất huyết dưới da dưới dạng các chấm xuất huyết hay các mảng bầm tím. Tại Maroc, theo một nghiên cứu của tác giả Hasbaoui và cộng sự từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 4 năm 2016 trong 594 trường hợp trẻ sơ sinh nhập viện tại khoa cấp cứu Nhi khoa, bệnh viện Nhi đồng, đại học Mohammed V, có 30 trẻ có tình trạng xuất huyết từ nhẹ đến nặng, chiếm tỉ lệ là 5,05%. Trong đó biểu hiện xuất huyết hay gặp phải nhất là xuất huyết nội tạng, đặc biệt là tiêu hóa (80%), tiếp theo chảy máu cam (10%), tiểu máu (7%), và xuất huyết dưới da (3%)2. Các nghiên cứu của các tác giả khác nhau thấy được tỉ lệ mắc xuất huyết các vị trí là khác nhau tùy từng đối tượng.

Theo Sokou và cộng sự nghiên cứu trên các trẻ sơ sinh bị bệnh nặng thì chảy máu não thất hay gặp nhất, sau đó đến chảy máu tại vị trí tiêm tĩnh mạch, ngoài ra còn có chảy máu phổi, tiết niệu hay tiêu hóa15. Theo Maduhu và cộng sự, vị trí hay gặp nhất lại là chảy máu rốn sau đó là các xuất huyết dưới da5. Tác giả Pakvasa và cộng sự khi nghiên cứu trên trẻ sơ sinh bị bệnh não thiếu oxy máu cục bộ (HIE: hypoxic-ischemic encephalopathy) trung bình đến nặng, có 28% trẻ có xuất huyết và xuất huyết hay gặp nhất là xuất huyết phổi, xuất huyết tiêu hóa và rốn16. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Xuân Hương và 7 Hoàng Thị Huế trong 3 năm từ 2008-2010 tại khoa Sơ sinh bệnh viện Trung ương Thái Nguyên có tổng cộng 78 trong tổng số 1299 trẻ sơ sinh đủ tháng (6,0%) trẻ có biểu hiện xuất huyết, con số này ở trẻ non tháng là 89/1522 trẻ (5,85%)4.

Một nghiên cứu năm 2022 của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Nga và cộng sự, trong số 302 trẻ sơ sinh có tình trạng cấp cứu tại các bệnh viện trên toàn tỉnh Hà Nam có 19 trẻ (6,3%) nhập viện có tình trạng xuất huyết17. Thời gian xuất hiện Các nghiên cứu của các tác giả khác nhau cho thấy thời gian xuất hiện các xuất huyết cũng rất khác nhau. Theo nghiên cứu của Swarnim tại Ấn Độ trên 70 trẻ sơ sinh có chảy máu thì có tới 71,43% trẻ có triệu chứng xuất huyết từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 7 sau sinh6. Tại bệnh viện Muhimnili ở Tazania, nghiên cứu của Mandudu và cộng sự cũng nhận thấy rằng độ tuổi bắt gặp chảy máu chủ yếu là trong vòng 7 ngày sau khi sinh5.

Một nghiên cứu khác của Sokou và cộng sự thì thời điểm xuất hiện xuất huyết có trung vị là 3 ngày (khoảng tứ phân vị là 2 - 10 ngày)15. Trong nghiên cứu về xuất huyết phổi ở trẻ đẻ non dưới 32 tuần của Nguyễn Thu Tịnh và Trần Thị Mỹ Giêng thì trung vị thời gian chảy máu là 47 giờ (khoảng tứ phân vị là 32,5 - 73 giờ)18. Còn theo Nguyễn Hải Hà thì thời gian chảy máu trung bình là 81,1 ± 98,8 giờ19. Một nghiên cứu khác của Vũ Thị Thu Nga về xuất huyết não trên đối tượng trẻ đẻ non thấy rằng xuất huyết não gặp chủ yếu trong 7 ngày đầu sau đẻ với 88,1%, sau 7 ngày chỉ có 11,9%20.

Xuất huyết ở trẻ sơ sinh thường do nguyên nhân thiếu hụt vitamin K. Thiếu vitamin K làm giảm khả năng đông máu. Trong khi đó, trẻ sơ sinh chưa có khả năng tổng hợp, lưu trữ vitamin K trong cơ thể. Sữa mẹ cũng không cung cấp 8 đầy đủ nguồn vitamin K để trẻ phát triển khỏe mạnh.

Trong bệnh chảy máu do thiếu vitamin K còn gọi là bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh, người ta thường chia thành 3 thể theo thời gian xuất hiện: - Bệnh xuất huyết sớm ở trẻ sơ sinh: 0 - 24 giờ tuổi, thường thấy ở mẹ dùng các thuốc ức chế vitamin K (các thuốc chống co giật trừ valproic acid, một số kháng sinh, thuốc kháng vitamin K). Theo Winckel và cộng sự, tỉ lệ xuất huyết do thiếu vitamin K khoảng 6 - 12 % nếu trẻ không được bổ sung vitamin K21. - Bệnh xuất huyết sơ sinh kinh điển: 2 - 7 ngày tuổi, phần lớn được ngăn ngừa bằng cách bổ sung vitamin K khi sinh. Nếu không được bổ sung vitamin K, tỉ lệ xuất huyết là 0,25 - 1,5%21.

- Bệnh xuất huyết muộn: 7 ngày - 3 tháng ( thường 30 - 45 ngày, hoặc muộn hơn đến 12 tháng).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Ong Thị Nga (2024), Đặc điểm xuất huyết và một số yếu tố nguy cơ ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, Luận văn bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Ong, T. N. (2024). Đặc điểm xuất huyết và một số yếu tố nguy cơ ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên [Luận văn bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/dac-diem-xuat-huyet-va-yeu-to-nguy-co-o-tre-so-sinh-tai-bv-trung-uong-thai-nguyen/9387346645
IEEE
T. N. Ong, "Đặc điểm xuất huyết và một số yếu tố nguy cơ ở trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên," Luận văn bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2024. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/dac-diem-xuat-huyet-va-yeu-to-nguy-co-o-tre-so-sinh-tai-bv-trung-uong-thai-nguyen/9387346645

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác