mở đầu cho một khuynh hướng tiểu thuyết chiến tranh mới, cho dù ở các tác phẩm này, cảm hứng sử thi vẫn giữ vị trí chủ đạo. Càng gần với hiện đại, tiểu thuyết viết về chiến tranh càng giản lược độ đậm đặc của các sự kiện lịch sử, thay vào đó là khuynh hướng tiểu thuyết đời tư – thế sự. Bên cạnh khuynh hướng sử thi, chiến tranh - người lính còn là đề tài lớn của một số khuynh hướng tiểu thuyết khác, trong đó phải kể đến khuynh hướng nhận thức lại và khuynh hướng triết luận. Nguyễn Trí Huân qua Chim én bay, Chu Lai với Ăn mày dĩ vãng, Bảo Ninh cùng Nỗi buồn chiến tranh đã thể hiện cảm hứng nhân đạo sâu sắc khi phác họa số phận của Quy, Hai Hùng và Kiên trở về sau chiến tranh với những hồi ức đẫm máu và nước mắt trải dài qua mỗi trang viết.
Có thể nói, dù viết theo khuynh hướng nào thì tâm điểm mà tiểu thuyết viết về chiến tranh sau chiến tranh vẫn là hướng đến con người. Dường như sau một thời gian khá dài hướng văn học đến phục vụ chiến đấu, hướng ngòi bút của nhà văn trở thành vũ khí cách mạng thì tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn này đã được trả về đúng thiên chức lớn nhất của nó như nhà văn Nguyễn 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Minh Châu đã quan niệm “Văn học và đời sống là hai đường tròn đồng tâm mà tâm điểm của nó là con người.” hay nói như Milan Kundera “Tiểu thuyết nhịp bước cùng con người thường xuyên và trung thành từ buổi khởi đầu của thời hiện đại” [61, 10]. Như vậy, tiểu thuyết hậu chiến là một bộ phận tiểu thuyết sáng tác ngay sau chiến tranh, đề cập và tái nhận thức các vấn đề của chiến tranh. Điều này mang lại cho tiểu thuyết hậu chiến những quan niệm mới về hiện thực và con người, góp phần tạo nên bước phát triển mới so với loại hình tiểu thuyết chiến tranh trong các giai đoạn trước đó.2 Một số đổi mới cơ bản của tiểu thuyết hậu chiến Bước vào một giai đoạn lịch sử mới với nhiều thay đổi không chỉ trên bề mặt xã hội mà còn diễn ra trong chiều sâu tâm lý tiếp nhận, văn hóa độc giả… tiểu thuyết hậu chiến nói riêng, văn học sau chiến tranh nói chung đứng trước những thách thức lớn.
Đó không đơn thuần là quy luật vận động của thể loại mà điều quan trọng, tiểu thuyết còn phải cạnh tranh với hàng loạt thể loại khác đã và đang đáp ứng được thị hiếu đa dạng của người đọc như thơ ca, truyện ngắn… ngoài ra, còn chưa kể đến các phương tiện phát thanh, truyền hình. Tuy nhiên, với những ưu thế vốn có, tiểu thuyết vẫn là thể loại chủ đạo của đời sống văn học. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp khẳng định đây mới là “thời của tiểu thuyết” “Trong điều kiện hòa nhập với “sân bãi quốc tế”, văn học (cũng giống như bong đá Việt Nam hay việc xuất khẩu hàng hóa công nông nghiệp) buộc phải mạnh lên về chất lượng và cả về “hình thức bao bì” của nó, tạo dựng một thương hiệu tử tế. Tiểu thuyết rõ ràng hợp thời hơn cả.
Đã có một “thời của tiểu thuyết” từ năm 1930 - 1945 được tạo nên bởi Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng ghi lại giai đoạn hiện thực đầy khó khăn trước cách mạng tháng Tám. Tiếp 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nối thời kì vẻ vang đó, cùng với ý thức “mỗi nhà tiểu thuyết, mỗi quyển tiểu thuyết phải sáng tạo ra một hình thức riêng. Không có một công thức nào có thể thay thế sự nghiền ngẫm liên tục đó…” [87], tiểu thuyết sau năm 1975 thực sự đã đánh dấu một bước chuyển mình trong đời sống thể loại. Quá trình đổi mới tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 bắt đầu khá sớm nhưng thầm lặng với những tín hiệu có tính dự báo trong Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà của Nguyễn Minh Châu, Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Năm 1975 họ đã sống như thế của Nguyễn Trí Huân và Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy.
Trong phạm vi phần này, chúng tôi sẽ điểm qua một số nét đổi mới cơ bản của tiểu thuyết hậu chiến trên các phương diện: mở rộng quan niệm về hiện thực, đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người và đổi mới nghệ thuật viết tiểu thuyết.1 Đổi mới quan niệm về hiện thực và cách tiếp cận hiện thực Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã kết thúc một giai đoạn trường chinh lớn của dân tộc. Và đồng hành với nó, văn học cũng khép lại một thời kì đất nước huy động toàn dân, toàn lực cho cuộc chiến đấu ấy. Khoảng cách với hiện thực chiến tranh được nới rộng dần tạo điều kiện cho người cầm bút nhìn nhận lại cả một chặng đường lịch sử mà văn học vừa trải qua. Nhiều điều cần bổ sung cho lịch sử và văn học được đặt ra với các nhà văn.
Từ sau 1975, quan niệm về hiện thực của các nhà văn đã có nhiều thay đổi. Trong nhiều tiểu thuyết, phạm vi hiện thực được mở rộng, có sự bổ sung những miền hiện thực mới, những góc khuất, những vùng cấm địa mà trước đây chưa có hoặc ít nói đến. Nếu như hiện thực trong chiến tranh đề cập đến những cam go, khốc liệt nhưng rất hào hùng của dân tộc thì sau chiến tranh, bộ mặt thật của chiến 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tranh đã hiện ra với tất cả sự khốc liệt của nó khi mà hiện thực được trình bày không còn đơn giản, xuôi chiều như văn xuôi trước đây. Sự đổi mới quan hệ nhà văn với hiện thực hậu chiến phải chăng bắt đầu với nhu cầu được nói thật “Phương châm nhìn thẳng vào sự thật làm nhà văn nhận rõ những non yếu của văn học thời kì trước” [75, 12].
Những năm đầu ngay sau chiến tranh, tiểu thuyết vẫn còn đượm không khí nóng bỏng, khẩn trương của những trận đánh trên đường tiến về Sài Gòn (Trong cơn gió lốc – Khuất Quang Thụy, Năm 1975 họ đã sống như thế - Nguyễn Trí Huân). Tuy nhiên, ngay sau cảm hứng say sưa, hào sảng với chiến thắng, những người cầm bút nhạy cảm và có tinh thần trách nhiệm đã sớm nhận ra yêu cầu không thể viết về chiến tranh như cũ nữa. Nhiều tác giả tìm về những thời kì khó khăn, những thời điểm bước ngoặt hay những mặt trận thầm lặng chưa được biết đến để bổ sung cho sự nhận thức và lí giải về cuộc chiến. Đọc Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Thung lũng thử thách (Thái Bá Lợi), Mở rừng (Lê Lựu) vẫn đầy ắp các sự kiện, vẫn ngột ngạt khói lửa bom đạn song giọng điệu hào hùng, say sưa dường như đã chìm xuống, thay vào đó là những suy tư, dự cảm về khó khăn, thử thách ở chặng đường trước mắt.
Thậm chí, có những đoạn văn trong Đất trắng đã nghiêng hẳn về cảm quan bi thương gây nên nhiều tranh cãi cho độc giả và giới phê bình vào thời điểm đó. Vẫn những con người đã từng lăn lộn với trận mạc, vẫn những chiến trường mịt mù khói lửa ấy nhưng rõ ràng vị thế của người viết đã tác động lớn đến cách nhìn nhận về hiện thực cách mạng. Phải nói rằng, nếu không có hàng chục chuyến đi về đất lửa Trị - Thiên – Huế để viết Thôn ven đường, Dấu chân người lính, Miền cháy… không có những ngày tháng sống giữa Trường Sơn, ở mặt trận Quảng Đà khốc liệt, không trải qua hơn 10 năm trời trên chiến trường miền Nam sốt rét và đói khát gom góp những điều trông 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thấy để viết nên những Đất trắng, Mở rừng, Thung lũng thử thách và nếu không có độ lùi thời gian… thì tiểu thuyết không thể có những trang văn chân thực về chiến tranh đến vậy. Sau này, khi độ lùi thời gian dài hơn, tư duy nghệ thuật đổi mới thì những chiêm nghiệm, suy tư về cuộc chiến đã qua của các nhà văn cũng sâu sắc hơn, tiểu thuyết có được một diện mạo mới và nhiều tác phẩm hay mà đỉnh cao là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.
Hiện thực chiến tranh lúc này được nhận thức là cái chưa biết, không thể biết hết, hiện thực phức tạp cần phải khám phá, tìm tòi. Hiện thực trong các sáng tác tiểu thuyết được lựa chọn, chắt lọc, khái quát, tái tạo. Ngay cả ở các tiểu thuyết cảm hứng sử thi vẫn giữ vị trí chủ đạo thì hiện thực đã được miêu tả trên một bình diện mới. Khác hẳn với chiến tranh trong Vùng trời (Hữu Mai), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Thôn ven đường (Xuân Thiều)… Đất trắng, Chim én bay, Thung lũng thử thách, Ăn mày dĩ vãng… đưa độc giả khám phá một bộ mặt chiến tranh mới, ở đó không phải lúc nào cũng có màu đỏ của chiến thắng, vinh quang mà nhiều khi là màu xám của thất bại, mất mát, giết chóc….
Viết về chiến tranh từ góc cạnh ấy, phải chăng các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Chu Lai, Nguyễn Trọng Oánh, Khuất Quang Thụy… như được “giải tỏa” cảm xúc, như được “tri ân” với người đã khuất và cả những người đang sống hôm nay. Trong số các tác giả tiểu thuyết hậu chiến, có thể coi Nguyễn Minh Châu là người tiên phong nhận thức được yêu cầu đổi mới của văn học. Ông cho rằng “Phản ánh hiện thực không có nghĩa là xâu chuỗi các sự kiện như lâu nay văn xuôi viết về chiến tranh đã làm, tất cả các thể loại văn học đều phải lấy con người làm đối tượng phản ánh”. Quan niệm này của ông đã được chứng minh bằng sự vận động trong sự nghiệp sáng tác của chính tác giả, từ 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dấu chân người lính cho đến Miền cháy và rõ hơn là trong các truyện ngắn như Cơn giông, Cỏ lau, Mùa trái cóc ở Miền Nam.
Ở các tiểu thuyết ngay sau chiến tranh, mặc dù chất sử thi vẫn còn đậm đặc, song điều dễ nhận thấy các nhà văn đã hướng ngòi bút nhiều hơn đến những thời điểm khốc liệt, gay cấn của cuộc chiến. Và dần dần, cảm hứng sử thi mờ nhạt đi, thay vào đó là cảm hứng đời tư thế sự. Người viết không chỉ mô tả hiện thực mà còn suy ngẫm về hiện thực, họ nhận ra rằng chiến tranh thực sự “không phải trò đùa”. Nhà văn đóng vai trò chủ động đối với việc lựa chọn hiện thực, thoát ra khỏi sự ràng buộc của chủ nghĩa đề tài, vì thế tư tưởng và kinh nghiệm cá nhân của nhà văn trở nên đặc biệt quan trọng.