Chương 1: Thế hệ thơ chống Mỹ và những chặng đường thơ Bằng Việt 1. Khái quát về thế hệ thơ chống Mỹ 1. Hoàn cảnh lịch sử và đội ngũ sáng tác Trong hai mươi năm chiến tranh, thơ Việt Nam giai đoạn chống Mỹ cứu nước 1964-1975 nở rộ những tài năng độc đáo, góp phần quan trọng vào sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng đất nước và làm giàu đẹp thêm nền thơ ca dân tộc. 10 Những vần thơ 1964 -1975 ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt của khói lửa chiến tranh.
Đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam hòng chia cắt hai miền đất nước, miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa làm nhiệm vụ của hậu phương lớn tiếp sức cho tiền tuyến lớn miền Nam chiến đấu đánh tan giặc Mỹ, giành độc lập thống nhất cho Tổ quốc. Trong những năm tháng cam go đầy thử thách ác liệt, nhân dân Việt Nam đã đi theo tiếng gọi của Đảng và Bác Hồ, toàn tâm toàn ý góp sức người và sức của cho cuộc chiến cuối cùng thắng lợi. Đội ngũ văn nghệ sỹ trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước cũng hăm hở lên đường, súng trên tay và bản thảo trên lưng, chắc tay súng, vững tay bút vào chiến trường đánh giặc và làm thơ. “Văn học nghệ thuật là một mặt trận, anh chị em văn nghệ sỹ cũng là chiến sỹ trên mặt trận ấy”.
Lời dạy của Bác từ những năm chiến tranh chống thực dân Pháp còn nguyên giá trị, thôi thúc lớp lớp nhà văn, nhà thơ sống, chiến đấu và sáng tác. Ta lại viết bài thơ trên báng súng Con hôm nay đang viết tiếp theo cha Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống Người hôm nay viết tiếp người hôm qua (Bài thơ trên báng súng - Hoàng Trung Thông) Văn học chống Mỹ đã có một lực lượng sáng tác đông đảo và hùng hậu với sự tiếp nối, tiếp lửa sáng tạo bền bỉ của các thế hệ văn nghệ sỹ Việt Nam. Thơ Việt Nam 1964 -1975 nằm trong mạch nguồn sáng tạo của văn học Cách mạng đã ghi nhận sự góp mặt của nhiều tiếng thơ, nhiều nhà thơ – chiến sỹ thuộc mọi thế hệ. Đầu tiên là thế hệ các nhà thơ đã sáng tác từ trước Cách mạng Tháng Tám, trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp như vàng đã qua thử lửa, “gừng càng già càng cay”, trở thành gạo cội của nền thơ ca chống Mỹ.
Đó là các tác giả đã vững vàng tuổi đời và tuổi nghề như: Tố Hữu, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Chế Lan Viên, Anh Thơ, Nguyễn Xuân 11 Sanh, Vân Đài, …. Tiếp theo là thế hệ các nhà thơ ra đời và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với những tác giả: Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hoàng Cầm, Thanh Hải, Giang Nam, Quang Dũng, Hồng Nguyên, Trần Hữu Thung, Thôi Hữu, Hữu Loan, Trần Mai Ninh, Thanh Hải, Minh Huệ, Nguyễn Viết Lãm, Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, … Cuộc kháng chiến mười năm qua như ngọn lửa – Nghìn năm sau còn đủ sức soi đường (Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên) đã tiếp sức cho cuộc kháng chiến hai mươi năm chống Mỹ với bao lớp người trẻ tuổi Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước – Mà lòng phơi phới dậy tương lai (Theo chân Bác – Tố Hữu). Văn học 1964 -1975 được bổ sung với một đội ngũ nhà thơ trẻ - những lớp thanh niên lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, được tiếp nhận trực tiếp vốn văn hóa, lý tưởng sống, lý tưởng thẩm mỹ và lý tưởng của Đảng Cộng sản, của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là các tên tuổi rất trẻ, rất mới đầy tự tin làm thơ và đánh giặc khi biết rằng những ngày mình đang sống đây là những ngày đẹp nhất.
Thanh Thảo đã bộc lộ rất chân thành nỗi lòng thế hệ các nhà thơ trẻ thời ấy: Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình (Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc) Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc? Thế hệ nhà thơ thứ ba như những cây tre non lá xanh ngút ngàn đang vươn lên mạnh mẽ bên cạnh những thân tre - lũy làng vững chắc của hai thế hệ nhà thơ đi trước. Đó là các tác giả: Lê Anh Xuân, Diệp Minh Tuyền, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Mỹ, Thanh Thảo, Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Hữu Thỉnh, Phạm Ngọc Cảnh, Bùi Minh Quốc, Anh Ngọc, Hoàng Nhuận Cầm, Dương Thị Xuân Quý, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Trần Đăng Khoa,… Phạm Tiến Duật đã viết những vần thơ tươi xanh về chính thế hệ các nhà thơ trẻ như mình: Ta đi hôm nay đã không là sớm Đất nước hành quân bốn chục năm rồi 12 Ta đi hôm nay cũng không là muộn Đất nước còn đánh giặc chưa thôi. Ba thế hệ nhà thơ nói trên đã tạo nên một đội ngũ trùng điệp cho thơ ca 1964 – 1975. Đội ngũ ấy đã tình nguyện đi vào cuộc sống, chiến đấu chống Mỹ với tinh thần trách nhiệm và lòng say mê.
Họ tỏa đi, lăn lộn khắp nẻo chiến trường, có mặt ở mọi địa phương, mọi trận địa nóng bỏng, ác liệt. Nhiều người đã hy sinh anh dũng như các nhà thơ Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Trọng Định … Trong suốt chặng đường phát triển của thế hệ các nhà thơ trẻ chống Mỹ (thế hệ thứ ba) luôn có những phát triển, bổ sung về lực lượng, mở rộng đề tài, cách tiếp cận và thể hiện đời sống kháng chiến; ở thời kỳ nào, thơ trẻ chống Mỹ cũng có những đóng góp đáng ghi nhận. Ở chặng đường thứ nhất là những tác giả tiêu biểu như: Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Mỹ, Lê Anh Xuân,… đã đem đến cho thơ chống Mỹ những tiếng thơ trẻ trung, tươi tắn, sôi nổi. Những vần thơ tràn đầy cảm xúc mê say, chân thành đối với cuộc sống quê hương, đất nước, tuy còn dấu vết sách vở nhưng đã thực sự thổi vào thơ ca giai đoạn này chất men say tuổi trẻ với khát khao được cầm súng chiến đấu, được cống hiến vì Tổ quốc, nhân dân.
Chặng đường thứ hai khi thơ trẻ chống Mỹ phát triển đến đỉnh cao có sự góp mặt của nhiều tác giả: Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Nhuận Cầm,… đã khẳng định được tiếng thơ của thế hệ mới: khỏe khoắn, trong sáng và đầy tự tin. Thơ lúc này đã vươn tới khái quát những mảng hiện thực lớn của cuộc chiến tranh chống Mỹ với những chi tiết chân thực được phát hiện, tìm tòi bằng chính cặp mắt quan sát tinh tế sắc sảo của những nhà thơ – người lính. Không khí dữ dội, ác liệt của đời sống chiến trường sinh động, bề bộn ùa vào thơ. Ở chặng cuối cùng, đội ngũ sáng tác trẻ càng trở nên đông đảo hơn với nhiều cây bút mới: Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Trần Mạnh Hảo,.
Các nhà thơ đã đi sâu hơn 13 vào đề tài chiến tranh, đến với hiện thực đời sống để khám phá, đúc kết chân lý, xây dựng nên những hình tượng thơ giàu ý nghĩa khái quát trong thể loại trường ca phát triển mạnh ở giai đoạn này. Có thể nói, thời đại chống Mỹ với cuộc sống chiến đấu và lao động phong phú, sôi nổi chứa đựng những tư tưởng tình cảm và hành động lớn lao đã đem đến cho thơ nói riêng và văn học nói chung một hiện thực nghệ thuật rộng lớn. Yêu cầu của văn học thời chiến tranh đòi hỏi tính chiến đấu cao. Thơ lại vốn là “một thể loại xung kích, ngắn gọn, phục vụ kịp thời, dễ ghi chép, dễ nhẩm, dễ thuộc” [22, tr.370] cho nên “Có thể nói chưa bao giờ thơ lại phát triển cao rực rỡ như thời kỳ này.
Đây là một cao trào phát triển mới về lượng cũng như về chất, có tính quần chúng sâu sắc trong phạm vi cả nước. Giáo sư Mã Giang Lân cho rằng: mỗi thời kỳ văn học đều có một thể loại của riêng nó và với thực tế văn học dân tộc, có thể coi những năm 1964 -1975 là thời kỳ của thơ ca Việt Nam với một không khí sáng tác và sinh hoạt thơ ca rộng lớn, hào hứng chưa từng thấy. Trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước, chúng ta có thể “ra ngõ gặp anh hùng” và có lẽ ra ngõ cũng có thể gặp nhà thơ. Phong trào sáng tác thơ ca trong bộ đội, thanh niên xung phong, dân công tuyến lửa,… - những nhà thơ không chuyên - bên cạnh những cây bút thơ chủ lực chuyên nghiệp trên khắp mọi ngả đường Tổ quốc đã tạo nên một nền thơ bề thế với nhiều thành tựu đặc sắc.
Những thành tựu thơ chống Mỹ Thơ kháng chiến chống Mỹ 1964 -1975 cũng như nền văn học chống Mỹ mang tính chất toàn dân, tính chiến đấu và tính chất khát quát, tổng hợp. Sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện của thơ ca thời kỳ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Cùng với lực lượng tác giả đông đảo, hùng hậu luôn bám sát tình hình chiến sự, nhiệt tình chiến đấu và sáng tác, chúng ta luôn nhận được sự chỉ đạo và quan tâm kịp thời đúng đắn của Đảng. Thơ xuất hiện trên mọi tờ báo từ Bắc vào Nam, trên Đài Tiếng nói Việt Nam, trên báo tường, trong chiến hào, 14 trên mặt trận, trong xưởng sản xuất, nơi đồng ruộng,.
Các nhà thơ đảm nhận thêm nhiệm vụ cao quý, là người xây dựng “pháo đài tâm hồn nhân dân”, phải làm sáng tỏ những mục đích cao quý của cuộc chiến đấu, phải tác động vào tình cảm, nâng cao năng lực và ý chí bất khuất giành chiến thắng. Thơ chống Mỹ thực sự trở thành một vũ khí chiến đấu của các nhà thơ – chiến sĩ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Trong ngọn lửa của cuộc chiến đấu vĩ đại, đội ngũ các nhà thơ trẻ được tôi luyện và luôn được bổ sung những cây bút mới. Chưa bao giờ nhiệt tình sáng tác lại sôi nổi như lúc này, chưa bao giờ mối liên hệ giữa các nhà thơ với thực tại lại trực tiếp và thiết tha như lúc này.
Làn sóng cảm hứng sáng tạo đã lôi cuốn các nhà thơ mọi thế hệ. Những cuộc thi thơ do báo Văn nghệ tổ chức đã góp phần phát hiện và bồi dưỡng lực lượng sáng tác trẻ. Những cuộc thi thơ năm 1965, 1967 và năm 1972 -1973 đã lôi cuốn hàng nghìn cây bút, hàng vạn bài thơ. Qua các cuộc thi, thơ có một không khí mới, trẻ khỏe, tươi thắm của cuộc sống sản xuất và chiến đấu.