CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vị trí phân loại của nhím bờm trong hệ thống phân loại động vật Nhím Bờm có tên khoa học là Acanthion Subcristatum. Tiếng la tinh có nghĩa là: Quill big (lợn lông) mặc dù chúng không phải là lợn. Theo Lê Hiền Hào (1973) [7] nhím bờm là một loài động vật hoang dã có tên khoa học là Acanthionsubcristatum.
Tiếng Anh là Porcupine. Tiếng Thái là Tô Miển. Nhím thuộc loài: Hytrixhodgsoni. Họ Nhím Hysticidac có bộ răng 1.3 = 20 chiếc Bộ gặm nhấm Rodentia.
Theo Lê Hiền Hào (1973) [7], loài nhím bờm phân bố ở một số nước như Nêpan, Axan, Têlaxêrim, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Pu Chia,Việt Nam, Trung Quốc (ở tỉnh Thiểm Tây và các tỉnh phía nam lưu vực sông Trường Giang và có cả ở đảo Hải Nam). Nhím bờm là loài thú phổ biến gặp ở các địa phương vùng núi và trung du, (trừ đồng bằng Miền Bắc Việt Nam). Nhím bờm cũng thường gặp trên các đảo gần bờ ở phía Đông Bắc Bộ, theo Võ Văn Sự và cộng sự (2006) [29]. Nhím lông hay thường được gọi là nhím là tên gọi cho một số loài động vật thuộc bộ gặm nhấm (Rodentia).
Chúng phân bố trên cả Cựu Thế Giới và Tân Thế Giới. Tên gọi nhím trong tiếng Việt cũng có thể đề cập đến một số loài trong bộ nhím gai (Erinaceomorpha) hay họ Tachyglossidae của bộ Monotremata, có nhiều đặc điểm khác hẳn với họ nhím lông Cựu Thế Giới (Hystricidae) và họ nhím lông Tân Thế Giới (Erethizontidae). Sau lợn nước và hải ly, nhím phân bố rộng thứ ba trong bộ gặm nhấm. Phần lớn nhím dài từ 630 - 910mm, đuôi dài khoảng 200 - 250mm.
Với khối lượng từ 5,4kg - 16kg, nhím có nhiều màu sắc như: nâu, xám và ít khi có màu trắng. n 4 * Các loài Nhím Có khoảng 27 loài nhím trong hai họ Hystricidae và Erethizontidae. Chúng có khả năng tự vệ nhờ bộ lông sắc nhọn xung quanh. Các loại nhím khác nhau có khối lượng khác nhau khá nhiều: Loài nhím Rothschild (Coendourothschild) ở Nam Mỹ có khối lượng 1kg, trong khi đó loài nhím Châu Phi (Hystrixcristata) có thể nặng tới 10kg.
Hai họ nhím này khá khác nhau mặc dù chúng cùng thuộc cận bộ Hystricognathi trong bộ gậm nhấm rộng lớn. Theo http://www. Mười một loài nhím trong họ nhím Cựu Thế Giới chỉ sống trên mặt đất. Chúng được cho rằng tách ra từ cận bộ Hystricognathi từ 30 triệu năm về trước, sớm hơn nhiều so với họ nhím lông Tân Thế Giới.
Những loài thuộc họ Nhím lông Tân Thế Giới nói chung nhỏ hơn nhiều so với những loài thuộc họ nhím lông Cựu Thế Giới, mặc dù loài nhím Bắc Mỹ (Erethirron dorsatum) dài đến 85cm và nặng đến 18kg. Các lông của nhím mọc đơn lẻ và nhím leo trèo cây rất tốt, tiêu tốn nhiều thời gian trên cây. Các loài nhím lông Tân Thế Giới đã tiến hóa lông gai của chúng một cách độc lập và có họ hàng gần gũi với một vài họ khác của tiểu bộ Caviomorpha (tiểu bộ chuột lang) thuộc bộ gặm nhấm hơn là so với nhím lông Cựu Thế Giới. * Phân loại Nhím Bộ Rodentia Phân bộ Hystricomorpha Cận bộ Hystricognathi Họ Nhím Hysticidac: Nhím bờm Họ Hystricidae: Nhím lông Cựu Thế Giới Nhím đuôi chổi châu Phi, Atherusrus apricanus Nhím đuôi chổi châu Á, Atherusrus macrourus Nhím châu Phi, Hyrtrix cristata Nhím Cape, Hyrtrixafricaeaustralis Nhím Himalaya, Hyrtrix hodgsoni Nhím Ấn Độ, Hyrtrix indicus n 5 Nhím Ma Lai, Hyrtrix brachyura Nhím Suda, Hyrtrix javanica Nhím Sumatra, Hyrtrixsumatrae Nhím Borneo, Thecurus crassispinis Nhím Philippine,Thecurus pumilis Nhím đuôi dài, Trichys pasciculata Họ Thryonomyidae: Chuột mía Họ Petromuridae: Chuột đa man (đề thỏ) Họ Bathyergidae: Chuột chũi châu phi Họ Caviidae: Chuột lang Họ Dasyproctidae: Agouti và acouchi Họ Erethirontidae: Nhím lông Tân thế giới Nhím Brasil, Coendou prehensilis Nhím gai hai màu, Coendou bicolor Nhím Koopman, Coendou koopmani Nhím Rothschild, Coendou rothschildi Nhím cây Mexico Sphiggururus mesicanus Nhím cây Nam Mỹ Sphiggururus spinosus Nhím Nam Mỹ Sphiggururus Spinosus Nhím lùn lông Bahia, Sphiggurus in sidiosus Nhím lùn lông Pallid, Sphiggururus pallidus (tuyệt chủng) Nhím lùn lông Brown, Sphiggururus vestitus Nhím lùn lông gai da cam, Sphiggururus villosus Nhím đuôi cụt, Echinoprocta rufescens Nhím gai cứng, Chaetomys subspinosus (đôi khi được coi thuộc họ Echimyidae) Họ Chinchillidae: Sóc sinsin (chuột lông tơ) và viscacha Họ Octohontidae: Chuột đá Nam Mỹ, degu Họ Ctenodactylidae: Gundi Họ Myocastoridae: Coypu Họ Ctenomyidae: Tuco - tuco n 6 1.
Những hiểu biết về nhím Theo “Quỹ Động vật hoang dã Nam Phi” African Wildlife Foundation, nhóm nhím Nam Phi có 3 giống đó là: Nhím bờm (Crested porcupine) khá phổ biến, tiếp theo là nhím Nam Phi - South African porcupine (Hystrix africaeaustralis) và cuối cùng là nhím đuôi chổi (African brush - Tailed porcupine Atherurus africanus) nhỏ hơn, thon thả hơn và sống cách biệt ở Kenya (Võ Văn Sự và cs, 2005) [30]. Theo các tư liệu của Trường Đại học Michigan, Viện bảo tàng Động vật (2003) [48] thì vùng Bắc Mỹ cũng có nhím với tên gọi là: nhím, nhím Bắc Mỹ, nhím Châu Mỹ (American Porcupines). Như vậy, ta có thể phân loại nhím làm 3 nhóm: nhím Việt Nam, nhím Nam Phi và nhím Bắc Mỹ. Sau đây là các đặc điểm cơ bản của từng nhóm.
Nhím bờm Nam Phi Là một trong những loài gặm nhấm lớn và nặng nhất Châu Phi khoảng 20 kg, tuy nhiên chúng khá khác nhau về kích thước như: Đầu hơi tròn, mũi ngắn, mắt và tai nhỏ. Chân nhím bờm ngắn, khỏe, bàn chân có 5 ngón và được bọc bằng các móng sắc nhọn, chia thành các đoạn đen, nâu, hơi vàng và trắng. Lông lưng, hai sườn và đuôi có lẫn với các loại lông mềm khác. Độ dài của lông thay đổi theo bộ phận trên thân, lông lưng giao động từ 2,5cm đến 30cm.
Lông thường nằm bẹp úp với thân, chỉ khi nào gặp kẻ thù nó mới dựng và xù lên, lông cũng dễ bứt ra khỏi da. * Nơi ở: Nhím Nam Phi thường sống ở vùng đồi núi, núi đá, nhưng cũng rất dễ thích nghi ở các địa hình khác. Người ta còn phát hiện nhím này có ở vùng núi Mt.Kilimanjaro, cao 11,480feet. Chúng thường sống trong các hốc đất, gốc cây, hang đá và đã được sửa chữa cho phù hợp với nhím.
Nhím cũng có thể ở trong các hang hốc mà con vật khác đã làm, chúng cũng có thể tự đào lấy hang riêng cho mình. Nếu nhím sống ở một hang nào đó vài ba năm thì hang đó có thể có một vài cửa ra, vào theo Phùng Quang Trường (2006) [37]. * Tập tính: Là một loài vật được vũ trang tốt, khi gặp nguy hiểm nhím dẫm mạnh chân, nghiến răng, dựng và xù ra bộ lông điển hình của loài. Khi xù lông đuôi nhím tạo thành tiếng động.
Nếu kẻ thù cứ tiếp tục tấn công nhím sẽ lùi lại và tấn công vào kẻ thù. Thường quả đánh đó rất hiệu quả vì phần mông của nhím nặng nhất và lông thường cắm thẳng vào đuôi. n 7 Nhím thích đi dọc đường, lối mòn vào ban đêm, chúng có thể đi xa để kiếm ăn. Thức ăn chính của nhím chủ yếu là rễ cây, củ, quả, hạt tự nhiên.
Nhím cũng rất thích ăn các loại củ, quả do con người trồng như: sắn, khoai lang và cà rốt. Mặc dù là động vật ăn tạp, nhưng chúng thích ăn cả xương động vật và các loại khoáng chất khác. * Đặc điểm sinh sản: nhím Châu Phi có số ngày mang thai là 112 ngày. Một lứa có thể đẻ được từ 1 đến 4 con.
Nhím con phát triển nhanh và mở mắt ngay khi đẻ ra. Hai tuần sau nhím con có thể rời tổ và lông bắt đầu cứng. Nhím con khá hiếu động. Nhím con bú mẹ từ 6 đến 8 tuần và tập ăn cây cỏ sau tuổi này.
Tuổi thọ của nhím khá cao, có con sống đến 20 năm. Khi quần thể nhím đông đúc, chúng có thể gây hại cho hoa màu. Có thể hun khói hoặc dùng chó săn, bẫy để đuổi và săn bắn chúng. * Kẻ thù: Nhím trông bề ngoài rất hung dữ, nhưng nhím cơ bản là một loài nhút nhát.
Kẻ thù của nhím là con trăn, con báo, chó sói và đôi khi kẻ thù của nhím cũng chết do lông nhím đâm vào họng. Nhím Bắc Mỹ Có mặt hầu hết ở các vùng Bắc Mỹ từ Alaska đến Labrado. Tại Trung Mỹ có ở các bang Lake States và New England, ở vùng Trung Bắc có nhiều ở bang Michigan, Winsconcin và Minnesota. Nhím Bắc Mỹ nặng từ 3 - 7kg.
Một số chiều đo của cơ thể như sau: Chiều dài thân: 64 - 93cm Đuôi dài : 15 - 30cm Tai dài : 2 - 4cm Chân sau dài : 8,5 - 12,5cm Nặng : 4 - 8 kg Màu lông thường nâu sẫm. Lông lưng, hai sườn và đuôi có lẫn với các loại lông mềm khác. Độ dài của lông thay đổi theo các bộ phận trên thân. Lông lưng ở nhím dài từ 2,5cm - 30cm, lông thường nằm bẹp úp với thân, chỉ khi nào gặp kẻ thù nó mới dựng và xù lên.
Lông nhím cũng dễ bứt ra khỏi da. Lông nhím có khoảng hơn 30 ngàn cái, lông dài nhất là ở đuôi và ngắn nhất là ở vùng má. n 8 Bàn chân trước có 4 ngón và chân sau có 5 ngón, như vậy đây là một điểm khác cơ bản giữa nhím Châu Mỹ và Nam Phi. Nhím cái có 2 hàng vú, nhưng cũng đã bắt gặp cá thể có 3 hàng vú.
Nhím Bắc Mỹ hoạt động quanh năm. Thức ăn mùa hè của nhím chủ yếu là các loại lá cây và cỏ. Mùa đông nhím ăn lớp vỏ bên trong của cây. Chúng rất thích muối nên thường hay ra đồng nơi mà muối được rắc kết với nhau thành băng xung quanh khu vực người ở, nhím gặm nhấm tất cả những gì có chứa muối.
Nhím Châu Mỹ cũng rất thích ăn cả xương động vật cũng như nhím Châu Phi. Sinh sản ở nhím thường xẩy ra vào đầu mùa đông. Nhím cái thuộc loại động dục nhiều lần (Polyestrous) và chu kỳ động dục này là 25 - 30 ngày. Rụng trứng xảy ra đồng thời và có thể thay nhau từ buồng trứng phải đến buồng trứng trái.
Thời gian động dục kéo dài 8 đến 12 giờ. Nhím đực thường đánh nhau tranh giành con cái. Thời gian chửa của nhím là 90 - 95 ngày. Nhím mẹ nuôi con đến 6 tháng tuổi, tại phòng thí nghiệm người ta nuôi nhím con trong vài tháng, nhưng trong cuộc sống hoang dã nhím con có thể tồn tại được vài tuần sau khi sinh với nguồn thức ăn là cây, cỏ.
Sau 2 tuần nhím con có thể ăn thức ăn cứng, 16 đến 24 tháng tuổi nhím đạt độ thành thục. Nhím có thể sống được 10 năm, trong điều kiện hoang dã nhím có thể sống được 5 - 6 năm. Nhím thường sống độc thân, tuy nhiên nhiều lúc cũng sống thành từng nhóm đặc biệt là vào mùa đông.