Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh thái và kỹ thuật nhân nuôi loài nhím đuôi ngắn hystrix brachyura tại đăklăk

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái và kỹ thuật nuôi loài nhím đuôi ngắn Hystrix brachyura tại Đắk Lắk, góp phần bảo tồn và phát triển.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Lâm Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2007

73
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về họ Nhím (Hystricidae)

1.2. Nghiên cứu nhím ở ngoài nước

1.3. Tình hình nghiên cứu nhím ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm sinh học, sinh thái của nhím đuôi ngắn

3.1.1. Đặc điểm hình thái ngoài

3.1.2. Số đo các cơ quan nội quan

3.1.3. Đặc điểm ăn uống

3.1.4. Đặc điểm sinh sản

3.1.5. Đặc điểm sinh trưởng

3.2. Kỹ thuật nhân nuôi nhím đuôi ngắn

3.2.1. Phương tiện, thiết bị bắt nhím để theo dõi và vận chuyển

3.2.2. Thức ăn, khẩu phần ăn

3.2.3. Chăm sóc, quản lý theo dõi

3.2.4. Bệnh tật và biện pháp phòng, trị

3.3. Hiệu quả kinh tế và khả năng nhân nuôi nhím ở Đăk Lăk

3.3.1. Hiệu quả kinh tế

3.3.2. Khả năng nhân nuôi nhím tại Đăk Lăk

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

4.1. Đặc điểm sinh học sinh thái

4.2. Kỹ thuật nuôi nhím

4.3. Hiệu quả kinh tế và khả năng nuôi nhím ở Đăk Lăk

4.4. Khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu sinh học nhím đuôi ngắn tại Đăk Lăk

Nghiên cứu sinh học và kỹ thuật nuôi nhím đuôi ngắn (Hystrix brachyura) tại Đăk Lăk đang trở thành một chủ đề quan trọng trong bối cảnh bảo tồn và phát triển kinh tế. Nhím đuôi ngắn là loài thú có giá trị kinh tế cao, thịt nhím được ưa chuộng và có nhiều ứng dụng trong y học cổ truyền. Tuy nhiên, số lượng nhím trong tự nhiên đang giảm sút nghiêm trọng do khai thác quá mức và mất môi trường sống.

1.1. Đặc điểm sinh học của nhím đuôi ngắn

Nhím đuôi ngắn có đặc điểm nổi bật là cơ thể được bao phủ bởi các gai trâm cứng, nhọn. Chúng có thể nặng tới gần 30 kg và sống chủ yếu ở các hang ngầm dưới đất. Thức ăn chính của nhím bao gồm các loại củ, quả và vỏ cây.

1.2. Tình hình nuôi nhím tại Đăk Lăk

Việc nuôi nhím tại Đăk Lăk còn rất mới mẻ và chưa phát triển mạnh. Hiện tại, chỉ có một số hộ gia đình thực hiện nuôi nhím với quy mô nhỏ, nhưng tỷ lệ thành công vẫn còn thấp do thiếu kinh nghiệm và tài liệu hướng dẫn.

II. Thách thức trong việc nuôi nhím đuôi ngắn tại Đăk Lăk

Mặc dù có tiềm năng phát triển, việc nuôi nhím đuôi ngắn tại Đăk Lăk gặp nhiều thách thức. Thiếu hiểu biết về đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi là nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ thất bại cao trong nuôi nhím.

2.1. Thiếu tài liệu và kinh nghiệm nuôi

Nhiều hộ nuôi nhím chưa có đủ tài liệu hướng dẫn về kỹ thuật nuôi, dẫn đến việc chăm sóc và quản lý không hiệu quả. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh trưởng của nhím.

2.2. Khó khăn trong việc cung cấp thức ăn

Thức ăn cho nhím chủ yếu là các loại củ và quả, nhưng việc tìm kiếm nguồn thức ăn ổn định và chất lượng vẫn là một thách thức lớn cho người nuôi.

III. Phương pháp nuôi nhím đuôi ngắn hiệu quả tại Đăk Lăk

Để nâng cao hiệu quả nuôi nhím, cần áp dụng các phương pháp nuôi hợp lý. Việc xây dựng chuồng trại và chế độ dinh dưỡng hợp lý là rất quan trọng.

3.1. Kỹ thuật xây dựng chuồng trại cho nhím

Chuồng nuôi nhím cần được thiết kế thoáng mát, sạch sẽ và an toàn. Cần có không gian đủ lớn để nhím có thể di chuyển và sinh hoạt tự nhiên.

3.2. Khẩu phần ăn hợp lý cho nhím

Khẩu phần ăn cho nhím cần đa dạng, bao gồm các loại củ, quả và thức ăn bổ sung để đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng cho sự phát triển của nhím.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu nuôi nhím

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nuôi nhím đuôi ngắn có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao nếu được thực hiện đúng cách. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhím có khả năng sinh sản tốt và phát triển nhanh trong điều kiện nuôi.

4.1. Hiệu quả kinh tế từ việc nuôi nhím

Việc nuôi nhím không chỉ giúp tăng thu nhập cho hộ gia đình mà còn góp phần bảo tồn loài thú này trong tự nhiên. Thịt nhím được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường.

4.2. Kết quả nghiên cứu về sinh sản của nhím

Nghiên cứu cho thấy nhím đuôi ngắn có thể sinh sản 1-2 lứa mỗi năm, mỗi lứa từ 1-5 con. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển của nghề nuôi nhím tại Đăk Lăk.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nuôi nhím tại Đăk Lăk

Việc nuôi nhím đuôi ngắn tại Đăk Lăk có nhiều triển vọng trong tương lai. Cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng và các tổ chức nghiên cứu để phát triển nghề nuôi này.

5.1. Đề xuất giải pháp phát triển nuôi nhím

Cần xây dựng các chương trình đào tạo cho người nuôi về kỹ thuật nuôi nhím, đồng thời phát triển các mô hình nuôi nhím hiệu quả.

5.2. Tăng cường bảo tồn và phát triển bền vững

Cần có các biện pháp bảo tồn loài nhím trong tự nhiên, đồng thời phát triển nghề nuôi nhím một cách bền vững để đảm bảo nguồn lợi cho cộng đồng.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh thái và kỹ thuật nhân nuôi loài nhím đuôi ngắn hystrix brachyura tại đăklăk

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên thú rừng của tỉnh Đăk Lăk có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loài thú kinh tế quan trọng. Thống kê ban đầu đã ghi nhận được ở Đăk Lăk có 93 loài thú thuộc 26 họ và 16 bộ [18]. Tuy nhiên, rừng ở Đăk Lăk đã bị tàn phá nặng nề trong nhiều thập kỷ qua do nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân sâu xa quan trọng nhất là do dân số tăng nhanh. Vì nhu cầu mưu sinh, người ta đã phá rừng để lấy gỗ và các lâm sản khác, lấy đất rừng để canh tác và trồng cây công nghiệp.

Rừng bị tàn phá đã thu hẹp nơi cư trú của động vật rừng. Cùng với nó là việc săn bắn thú rừng lấy thịt và các sản phẩm, việc quản lý bảo vệ động vật rừng chưa tốt, việc mua bán vận chuyển trái phép động vật rừng diễn ra khắp nơi, phong trào ăn đặc sản thịt động vật rừng ngày một gia tăng. Hậu quả là tài nguyên thú rừng bị giảm sút nghiêm trọng về số lượng chất lượng. Nhiều loài có nguy cơ bị tuyệt chủng trong tự nhiên như: hổ, voi, bò xám, bò tót, bò rừng, gấu, báo.

Nhím đuôi ngắn (Hystrix brachyura) là loài thú có giá trị kinh tế cao. Theo Lê Hiền Hào (1973) thịt nhím rất ngon, chất lượng cao. Mật nhím được nhân dân sử dụng phổ biến như mật gấu để chữa bệnh đau mắt, đau lưng và xoa bóp chấn thương. Dạ dày nhím được dùng để chữa bệnh đau dạ dày.

Ở Trung Quốc, thịt, ruột già, gan và cả phân nhím được dùng để chữa các bệnh phong nhiệt. Lông nhím được dùng trong sản xuất một số mặt hàng mỹ nghệ. Ở Việt Nam, nhím đuôi ngắn chưa có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2000) và Danh mục các loài thực vật rừng quí hiếm ban hành kèm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính Phủ, nhưng trên thế giới nhím là loài thú quí hiếm đang bị đe doạ ở mức VU- sẽ nguy cấp theo Danh lục đỏ IUCN (2006). Do có giá trị kinh tế cao nên nhím đuôi ngắn luôn là mục tiêu săn bắt ráo riết của nhân dân các địa phương.

Hiện nay, số lượng nhím trong tự nhiên đã giảm sút nhiều về số lượng so với một hai chục năm trước đây, chỉ còn gặp những cá thể nhỏ (dưới 12 kg), rất ít còn gặp được những cá thể lớn như trước đây (20-25 kg). Do số lượng trong tự nhiên còn quá ít, không đủ cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội, nên người dân ở nhiều địa phương trong cả nước và ở Đăk Lăk đã tự phát thuần LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hoá nhân nuôi nhím đuôi ngắn. Theo một số tài liệu, người đầu tiên nuôi nhím đuôi ngắn thành công ở Việt Nam có lẽ là ông Phạm Ngọc Tuân ở ấp Bến Đình xã Nhuận Đức huyện Củ Chi TP Hồ Chí Minh. Ông bắt đầu nuôi từ năm 1988, đến nay đã có trên 200 con bố mẹ.

Một số người dân ở Sơn La bắt đầu nuôi nhím đuôi ngắn từ khoảng năm 1992; người dân Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh bắt đầu nuôi từ 1996,. Đến nay, việc nuôi nhím đã lan ra nhiều nơi nhiều địa phương khác: Bắc Giang, Lai Châu, Hưng Yên, Hà Tây, Hà Nội, Ninh Bình, Bình Phước, Đồng Nai, Đak Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai,. Riêng ở Đăk Lăk người nuôi sớm nhất được cho là ông Triệu Văn Vỵ ở thôn Kim châu xã Hoà Hiệp, Huyện Krông Ana. Ông bắt đầu nuôi năm 1996, tuy nhiên đàn nhím của ông không phát triển lắm và đến 2006 đã bán cho người khác.

Nhìn chung, việc nuôi nhím đuôi ngắn trên cả nước tuy đã có nhiều hộ thực hiện, nhưng tỷ lệ nuôi thành công còn rất ít, thất bại nhiều. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do thiếu hiểu biết về các đặc điểm sinh học sinh thái, tập tính sống của loài nhím; thiếu các tài liệu tổng kết kinh nghiệm và phổ biến kỹ thuật nuôi. Nhằm góp phần cải thiện tình hình nuôi nhím ở Đăk Lăk nói riêng và ở Việt Nam nói chung, chúng tôi đã chọn thực hiện đề tài “ Nghiên cứu các đặc điểm sinh học sinh thái và kỹ thuật nhân nuôi loài nhím đuôi ngắn (Hystrix brachyura) tại Đăk Lăk”. Chúng tôi hy vọng kết quả đề tài sẽ góp phần vào việc phát triển việc nuôi nhím đuôi ngắn ở nước ta, giảm nguy cơ cho loài thú này trong tự nhiên, góp phần cung cấp thịt nhím cho thị trường, tăng thu nhập và đem lại hiệu quả kinh tế cho người nuôi, nhím có thể sẽ là con giống nuôi mới góp phần đa dạng hoá cơ cấu giống vật nuôi ở địa phương.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về họ Nhím (Hystricidae) Họ Nhím hay Họ Nhím cựu lục địa (Hystricidae) thuộc phân bộ Dạng nhím (Hystricomorpha), bộ Gậm Nhấm (Rodentia). Theo hệ thống phân loại mới nhất của Wilson et al (2005) thì họ Nhím (Hystricidae) có 3 giống và 11 loài như sau: Bộ Gậm nhấm - Rodentia Phân bộ Hình nhím - Hystricomorpha Họ Nhím - Hystricidae Giống Atherurus 1. Đon châu phi - Atherurus africanus 2. Đon châu á - Atherurus macrourus Giống Hystrix 3.

Nhím bờm - Hystrix cristata 4. Nhím - Hystrix africaeaustralis 5. Nhím bờm ấn độ - Hystrix indica 6. Nhím đuôi ngắn - Hystrix brachyura 7.

Nhím java - Hystrix javanica 8. Nhím borneo - Hystrix crassispinis 9. Nhím inđônêxia - Hystrix pumila 10. Nhím sumatra - Hystrix sumatrae Giống Trichys 11.

Nhím đuôi dài - Trichys fasciculata Thú họ Nhím có đặc điểm nổi bật nhất là cơ thể được bao phủ bởi các gai trâm cứng, nhọn, sắc thay cho bộ lông ở các loài thú khác. Chiều dài các trâm có thể tới 30-35cm. Nhím không thể phóng trâm gai vào kẻ thù, nhưng khi bị tấn công nhím có thể quay mông lại, dựng đứng các trâm nhọn lên rồi chạy lùi lại hoặc đứng yên chờ kẻ thù lao tới đâm phải trâm cứng. Các trâm dễ dàng rụng, đâm sâu vào cơ thể kẻ thù và gây chết cho chúng.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Nhím có cơ thể to ngắn và mập, nặng tới gần 30 kg, chân ngắn, bàn chân có 5 ngón với các vuốt khoẻ. Nhím thích gậm nhấm, răng cửa lớn, cơ hàm khoẻ. Theo Lekagul et al. (1973) mặc dù thức ăn chính của nhím là các loại củ, quả, vỏ cây nhưng nhím cũng gặm xương động vật để điều chỉnh hàm răng và bổ sung canxi và phốt pho cho cơ thể.

Chúng đôi khi công xương động vật về hang, tích tụ thành đống. Sọ có phần trán và mũi phồng to, đặc biệt là ở giống Hystrix, mào chẩm lớn. Hố trước mắt khá lớn cho các cơ nhai lớn đi qua. Các dãy răng khá song song với nhau.

Bầu nhĩ khá nhỏ và không có giá trị định loại. Chiều dài và tỷ lệ của các xương mũi là đặc điểm định loại rất quan trọng. Các răng cửa khá lớn, có màu đỏ hoặc vàng ở mặt trước. Răng cửa phát triển trong suốt cuộc đời.

Răng trước hàm và răng hàm có mặt nhai phẳng với nhiều gơ men răng phức tạp. Giống Hystrix có các xương mũi dài và phồng, thường bắng ½ chiều dài mũi-chẩm, ít nhất là 50 mm. Đuôi ngắn, ngắn hơn 20% chiều dài thân-đầu, múp đuôi có túm lông gai chuyên hoá thành gai kêu (hình ống rỗng, phồng). Các gai chuyên hoá cao và khá dài trên lưng.

Giống Atherurus có xương mũi thường ngắn hơn 30% chiều dài mũi-chẩm, không dài quá 30 mm. Đuôi khá dài, bằng 33-50% chiều dài thân-đầu, có túm gai kêu ở múp đuôi, các gai biến dạng thành chuổi hạt dài. Gai trên lưng kém phát triển. Nhìn chung, các loài nhím hoạt động về đêm hoặc lúc hoàng hôn, trong điều kiện nuôi chúng có thể hoạt động cả ban ngày.

Nhím sống chủ yếu ở các hang ngầm dưới đất do chúng tự đào hoặc sử dụng các hang có sẵn. Trong mỗi hang thường là bố mẹ và các con sinh ra. Nhím cái có 2-3 đôi vú nằm ở bên hông. Nhím sinh sản 1- 2 lứa trong năm và mỗi lứa đẻ 1-5 con, thường là 2 con.2 Những nghiên cứu về nhím ở ngoài nƣớc.

Các loài nhím trên thế giới đã được phát hiện, phân loại và nghiên cứu từ khá lâu. Một số loài nhím phân bố ở Đông Nam Á như nhím đuôi ngắn, nhím bờm, nhím đuôi chổi Á châu.Trong đó Nhím đuôi ngắn( Hystrix brachyura ) đã được nhà động vật học người Thuỵ điển Carolus Linnaeus ( 1707-1778) phát hiện đầu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 tiên năm 1758 ở Malacca Malaysia (ảnh 1), Nhím bờm (Hystrix Hodgsoni.Gray 1847) đã được nhà động vật học người Anh Geoge Robert Gray( 1808-1872) phát hiện 1847. Nhím klos ( Acanthion klossi Thomas) đã được nhà động vật học người Anh Thomas Bell FRS(1792- 1880) phát hiện. Về phân loại nhím có các nghiên cứu của Morisson scott, Wilson(1993) “Mammal Species of the World, A Taxonomic and Geographic Reference”, McKenna, Malcolm C.

Bell (1997) “Classification of Mammals: Above the Species Level”. Nghiên cứu về tập tính, đặc điểm sinh học của nhím có các tác giả như Nowak, Ronald M.(1999)“Walker's Mammals of the World”, Macdonald, David (1984) “The Encyclopedia of Mammals”, Corbet, G.(1992)” The mammals of the Indomalayan region”, Hole, Robert B. Mc Neely, (1988)” Mammals of Thailand”. Riêng về nhím đuôi ngắn, hầu hết các nghiên cứu chỉ có một số ít thông tin ở mức độ phân loại, một số đặc điểm hình thái ngoài.Những đặc điểm về sinh sản, sinh trưởng, phổ thức ăn, chế độ và khẩu phần ăn, kỹ thuật nhân nuôi.

hầu như chưa được nghiên cứu và đề cập đến 1.3 Tình hình nghiên cứu nhím ở Việt Nam Họ Nhím nói chung và loài nhím đuôi ngắn nói riêng còn ít được nghiên cứu ở Việt Nam. Cho đến nay các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào xác định thành phần loài, vùng phân bố và tình trạng khai thác sử dụng ở các địa phương. Đặng Huy Huỳnh và cs. Tuy nhiên, dựa trên các kết quả nghiên cứu phân loại học gần đây Wilson et al (2005) cho rằng cả 3 tên nhím nêu trên chỉ là đồng danh của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 một loài duy nhất là nhím đuôi ngắn (Hystrix brachyura).

Như vậy, ở Việt Nam, thuộc họ Nhím chỉ có 2 loài là đon (Atherurus macrourus) và nhím đuôi ngắn (Hystrix brachyura). Về phân bố của nhím ở Việt Nam đã được nhiều tác giả đề cấp đến như Đào Văn Tiến, Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung, Lê Vũ Khôi, Trần Hồng Việt, Nguyễn Xuân Đặng, ….

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu sinh học và kỹ thuật nuôi nhím đuôi ngắn tại Đăk Lăk" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sinh học và kỹ thuật nuôi dưỡng loài nhím đuôi ngắn, một loài động vật có giá trị kinh tế và sinh thái cao. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh học, môi trường sống và nhu cầu dinh dưỡng của nhím đuôi ngắn, mà còn đưa ra các phương pháp nuôi dưỡng hiệu quả, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm từ loài động vật này.

Để mở rộng kiến thức về bảo tồn và quản lý động vật hoang dã, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đánh giá giá trị bảo tồn khu hệ thú, nơi nghiên cứu các tác nhân đe dọa và đề xuất giải pháp quản lý bảo tồn. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sử dụng vùng sống của vọoc mũi hếch cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về bảo tồn các loài động vật quý hiếm. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu về Luận văn nghiên cứu dự đoán vùng phân bố của loài chà vá, giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu đến sự phân bố của các loài động vật. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về lĩnh vực sinh học và bảo tồn động vật.