CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG 1. Giới thiệu chung về ngôn ngữ Mac – Anghen đã chứng minh rằng: ngôn ngữ là sản phẩm được tạo thành từ một loại vật chất đặc biệt là bộ óc của con người. Đây chính là ranh giới của sự khác biệt giữa ngôn ngữ loài người với ngôn ngữ của các loài động vật có khả năng tổ chức cao như loài ong, loài kiến. Còn theo Noam Chomsky – người khởi xướng ngôn ngữ tạo sinh thì khẳng định: khả năng sử dụng ngôn ngữ là một đặc điểm quyết định phân biệt con người với động vật.
Ngôn ngữ của loài người khác với các hệ thống giao tiếp (hiểu theo nghĩa thông báo) của loài vật trước hết ở chỗ nó là công cụ để diễn đạt kết quả của tư duy và phục vụ cho tư duy tự do. Trong các hệ thống giao tiếp khác ở loài vật bị gắn chặt với kích thích và phản xạ từ thế giới bên ngoài, bị gắn liền với cái đang xảy ra khi con vật phát tín hiệu thì ngôn ngữ của loài người thoát khỏi tất cả những ràng buộc đó. Ngôn ngữ của con người chẳng những biểu hiện cái đang xảy ra mà còn thể hiện cái đã xảy ra và cả cái chưa hề có, cả những kết quả xây dựng bằng trí tuệ, bởi tư duy, chỉ tồn tại trong tư duy. Ra đời từ lao động, trở thành phương tiện để giao tiếp, công cụ để tư duy, ngôn ngữ đã gắn bó chặt chẽ với xã hội loài người.
Tuy nhiên không đơn thuần chỉ mang bản chất xã hội, ngôn ngữ còn là một hiện tượng xã hội đặc biệt. Trong các hiện tượng xã hội, chủ nghĩa Mac phân biệt cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Với ngôn ngữ, nó không thuộc kiến trúc thượng tầng cũng chẳng nằm ở cơ sở hạ tầng. Tất cả các hiện tượng xã hội khác khi quan niệm thay đổi, khi kiến trúc thượng tầng thay đổi thì chúng cũng thay đổi nhưng với ngôn ngữ thì không vì thế mà thay đổi.
Chính vì thế ngôn ngữ không phụ thuộc vào kiến trúc thượng tầng. Các hiện tượng xã hội khác đều mang tính giai cấp nhưng với ngôn ngữ thì không, vì nó phục vụ cho lợi ích của mọi giai cấp. Theo Marr “Ngôn ngữ cũng mang tính giai cấp vì mỗi tầng lớp khác nhau lại có cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau”. Thực ra việc sử dụng ngôn ngữ là tùy thuộc vào ý thức cá nhân và môi trường giao tiếp cho nên không thể coi đó là 8 tính giai cấp của ngôn ngữ.
Ngoài ra, nếu các hiện tượng xã hội khác phát triển theo quy luật đột biến, biến đổi theo các cuộc cách mạng thì ngôn ngữ cũng phát triển nhưng là phát triển theo quy luật kế thừa, từ từ và không đột biến. Điều này khác với các hiện tượng xã hội khác quan hệ với kiến trúc thượng tầng là quan hệ giản đơn, ngôn ngữ thì trực tiếp chỉ đạo và đời sống. Trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học đã định nghĩa về ngôn ngữ như sau: “Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu phát sinh tự nhiên, phát triển có quy luật và mang đặc trưng xã hội”. Có thể nói định nghĩa này đã thể hiện rất rõ những đặc trưng cơ bản nhất của ngôn ngữ.
Ngôn ngữ báo chí – những vấn đề cơ bản 1. Khái niệm ngôn ngữ báo chí Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ đặc trưng của quá trình truyền tải thông tin báo chí. Báo chí bao gồm nhiều thể loại: tin tức, tường thuật, phóng sự, phỏng vấn, bình luận. mỗi thể loại lại có những yêu cầu ngôn ngữ riêng, phù hợp với đặc điểm truyền thông của thể loại.
Do vậy ngôn ngữ báo chí một mặt được hiểu như là sự tổng thể các ngôn ngữ, thể loại. Sự đa dạng của thể loại dẫn tới sự đa dạng của ngôn ngữ báo chí. Mặt khác, khái niệm ngôn ngữ báo chí được xác lập chủ yếu trong sự khu biệt với khái niệm ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ đời sống tự nhiên. Trong tương quan so sánh đó, nếu đặc trưng của ngôn ngữ văn học là tính nghệ thuật và hiệu quả thẩm mỹ, thì đặc trưng của ngôn ngữ báo chí là tính chính xác, hàm súc khách quan và hiệu quả truyền thông tối ưu.TS Dương Văn Quảng: “ngôn ngữ báo chí là một hiện tượng xã hội và đối tượng của nó (người đọc) đôi khi được nhìn nhận như là một mục tiêu” cần đạt tới.
Người làm báo luôn tìm cách thuyết phục và lôi cuốn người đọc bằng cách lồng vào văn bản một ý thức hệ tư tưởng, định hướng dư luận, đưa ra những cách xử thế khác nhau và cuối cùng là tạo ra ở người đọc một thái độ mà người làm báo mong muốn” [15, 38]. Theo tác giả Nguyễn Tri Niên: “ngôn ngữ báo chí là một khái niệm nghiệp 9 vụ, tương đương với khái niệm tin, phóng sự, phỏng vấn. Ngôn ngữ báo chí phải đáp ứng những đòi hỏi của nghiệp vụ về phẩm chất, về hiểu biết do vậy cần dựa trên những nhận thức cơ sở như: nhận thức về chính trị, nhận thức về tiếng mẹ đẻ, nhận thức về vốn kiến thức” [14, 10]. Như vậy, có thể nói một cách ngắn gọn ngôn ngữ báo chí chính là ngôn ngữ được sử dụng ở lĩnh vực báo chí.
Đặc điểm ngôn ngữ báo chí Tác giả Hoàng Anh cho rằng: “nét đặc trưng bao trùm của ngôn ngữ báo chí là có tính chất sự kiện. Chính tính sự kiện đã tạo nên cho ngôn ngữ báo chí một loạt tính chất cụ thể như: tính chính xác, tính cụ thể, tính đại chúng, tính ngắn gọn, tính định lượng, tính bình giá, tính biểu cảm, tính khuôn mẫu” [2, 16]. Theo tác giả Nguyễn Tri Niên, đặc điểm ngôn ngữ báo chí gồm: “Cách tiếp cận hiện thực đặc thù: siêu ngôn ngữ; đặc điểm loại hình những mối quan hệ” [14, 48]. Siêu ngôn ngữ là cách diễn đạt phù hợp với từng hoàn cảnh, từng đối tượng.
Đó là phương thức diễn đạt thường trực của nhà báo. Hay nói cách khác, ngôn ngữ trong tác phẩm báo chí là siêu ngôn ngữ. Siêu ngôn ngữ giúp nhà báo phản ánh trung thực, chính xác và đảm bảo yêu cầu thông tin. Với nhà báo, siêu ngôn ngữ phụ thuộc rất nhiều vào vốn kiến thức.
Vốn kiến thức giúp nhà báo hình thành siêu ngôn ngữ một cách dễ dàng và nhanh chóng, nghĩa là xác định cách diễn đạt, cấu trúc diễn đạt, lựa chọn từ ngữ. Dù cùng là một hiện tượng, một sự vật nhưng bối cảnh mà sự vật, hiện tượng đó xuất hiện thì không lần nào giống lần nào. Bởi vậy ngôn ngữ không thể nào chỉ có một cách diễn đạt. Hơn thế, một sự kiện nào đó xuất hiện trong cuộc sống mà nhà báo phản ánh bao giờ cũng là hệ quả của một sự vận động và thuộc một bối cảnh nhất định.
Bởi vậy, muốn nhận dạng được sự kiện đó và có ngay cách diễn đạt phủ hợp nhà báo phải nhờ vào vốn kiến thức sâu rộng của mình. Đặc điểm loại hình có ba đặc điểm: ngôn ngữ sự kiện, ngôn ngữ định lượng, ngôn ngữ của độ không chính xác. Ngôn ngữ sự kiện là đặc điểm loại hình quan trọng nhất của ngôn ngữ báo 10 chí. Đó là ngôn ngữ bám sát sự kiện có thật và nguyên dạng để phản ánh.
Nếu trong văn học nhà văn sử dụng ngôn ngữ hình tượng dựa trên phép hư cấu để phản ánh thì với báo chí, ngược lại, nhà báo chỉ được quyền nói cái thật mà độc giả, khán giả, thính giả đều cảm nhận được ngay trong cuộc sống xung quanh họ. Chính vì vậy, nếu nhà văn có quyền tưởng tượng, có quyền tạo ra những gì mình muốn, hình tượng nghệ thuật hoàn toàn là sản phẩm chủ quan của nhà văn thì với nhà báo, không được bịa ra sự thật hay tưởng tượng ra sự thật. Đồng thời cái thật đó mình phải phản ánh ở nguyên dạng chứ không được thêm bớt hay tô vẽ. Sự thêm bớt hay tô vẽ vào cái thật của cuộc đời chỉ khiến tác phẩm báo chí kém sức thuyết phục.
Một khi chúng ta tôn trọng cái có thật, cái nguyên dạng thì ít nhất chúng ta mới thể hiện được là người quan sát trung thực các sự kiện và là người phản ánh các dư luận của xã hội. Ngoài ngôn ngữ sự kiện, báo chí còn có ngôn ngữ định lượng. Ngôn ngữ báo chỉ coi trọng lượng sự kiện. Chính lượng sự kiện sẽ khái quát hiện thực của tác phẩm.
Ngôn ngữ sự kiện chỉ được khẳng định ở lượng sự kiện. Tính chất, bản chất, khuynh hướng của sự kiện tất thảy đều qua lượng sự kiện mà có. Độ tin cậy của tin bài đều do lượng sự kiện ấn định. Lượng sự kiện cấp cho nhà báo những cách diễn đạt mới độc đáo và đầy lượng thông tin.
Cuối cùng là ngôn ngữ của độ không xác định. Đó là ngôn ngữ của cách diễn đạt gợi sự liên tưởng, sự chú ý, kích thích sự tìm hiểu và tạo ra sự suy nghĩ không dứt trong lòng người đọc, người xem. Đó cũng là ngôn ngữ của cách diễn đạt hạn chế tối đa khả năng đoán trước của người đọc. Ngoài ra, cấu trúc mở trong tác phẩm báo chí, tạo cho tác phẩm báo chí có sức sống vượt thời gian.
Ngôn ngữ của độ không xác định là sự đồng hành với cấu trúc mở. Ngôn ngữ báo chí luôn thể hiện đồng thời một trong ba mối quan hệ: quan hệ phản ánh, quan hệ đối xứng, quan hệ liên tưởng. Trong ba mối quan hệ trên thì quan hệ phản ánh là quan hệ bao trùm, mang tính bắt buộc. Quan hệ này thông qua hai quan hệ đối xứng và liên tưởng để thực hiện chức năng phản ánh.
Đây là quan hệ tạo được sự trùng hợp giữa mô hình hiện thực với mã ngôn ngữ trong tác phẩm báo chí. Quan hệ phản ánh đòi hỏi 11 tin, bài bao giờ cũng phải trung thực chính xác, không mâu thuẫn. Quan hệ đối xứng là quan hệ tạo ra sự hài hòa, đối xứng hoặc đối lập giữa mô hình hiện thực với mã ngôn ngữ trong tác phẩm báo chí. Đây là một sự cụ thể hóa quan hệ phản ánh.
Quan hệ liên tưởng cũng phụ thuộc vào hai quan hệ trên. Nếu phản ánh đúng, đối xứng đúng thì liên tưởng đúng và ngược lại. Quan hệ liên tưởng là quan hệ tác động hai chiều: chiều nhà báo và chiều người nhận tin. Đối với nhà báo thì đây là những chuẩn mực để lựa chọn câu chữ, cách diễn đạt, cấu trúc tin, bài thế nào để hướng sự liên tưởng của độc giả, khán giả, theo chủ đích của mình, không tạo ra những liên tưởng có hại cho bài báo.