Tổng quan luận án

Công trình "Đặc điểm giao tiếp của sinh viên người Khmer vùng Đồng bằng Sông Cửu Long" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Minh Nhựt, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Mai Lan, chuyên ngành Tâm lý học (mã số: 9 31 04 01) tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, hoàn thành và bảo vệ năm 2023.

Về tính cấp thiết, luận án xuất phát từ vai trò của giao tiếp với tư cách là hoạt động xã hội xác lập và vận hành các mối quan hệ liên nhân cách, giúp cá nhân tiếp thu văn hóa và phát triển nhân cách. Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long hiện có khoảng hơn 1 triệu người dân tộc Khmer sinh sống (chiếm 6,36% dân số toàn vùng và chiếm 97,2% dân số người Khmer trên cả nước), trong đó có khoảng 2.200 sinh viên theo học tại các cơ sở giáo dục đại học. Khi bước vào môi trường đại học, sinh viên người Khmer phải đối mặt với sự thay đổi về môi trường sinh hoạt, yêu cầu học tập học thuật, sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa. Nhiều sinh viên bộc lộ sự e dè, hạn chế về vốn từ tiếng Việt phổ thông, gặp khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ với giảng viên và bạn học khác dân tộc, dẫn tới kết quả học tập thấp hoặc trở ngại trong định hướng nghề nghiệp. Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả nhận định các công trình trước đây phần lớn tiếp cận cộng đồng người Khmer dưới góc độ dân tộc học, văn hóa học, hoặc nghiên cứu giao tiếp ở các nhóm học sinh dân tộc thiểu số khác, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu từ góc độ chuyên ngành tâm lý học về các đặc điểm giao tiếp của sinh viên người Khmer tại vùng Tây Nam Bộ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là: Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đặc điểm giao tiếp của sinh viên người Khmer vùng Đồng bằng Sông Cửu Long cùng các yếu tố ảnh hưởng, luận án đề xuất các biện pháp tâm lý hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp cho nhóm đối tượng này.

Các nhiệm vụ nghiên cứu được xác định theo văn bản gồm:

  1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về giao tiếp, đặc điểm giao tiếp, đặc điểm giao tiếp của học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số.
  2. Xây dựng cơ sở lý luận về đặc điểm giao tiếp của sinh viên người Khmer.
  3. Đánh giá thực trạng đặc điểm giao tiếp của sinh viên người Khmer vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm giao tiếp của sinh viên người Khmer vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.
  4. Đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp của sinh viên người Khmer vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

Đối tượng nghiên cứu là biểu hiện đặc điểm giao tiếp của sinh viên người Khmer vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên các phương diện:

  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào 4 thành tố cơ bản:
    • Đặc điểm đối tượng giao tiếp: 4 nhóm (người thân trong gia đình, bạn bè, thầy cô, các tổ chức xã hội).
    • Đặc điểm nội dung giao tiếp: 7 khía cạnh (hoạt động học tập; đời sống tình cảm; kỹ năng sống và sức khỏe; đời sống kinh tế; thời sự, văn hóa, thể thao; kỹ năng nghề nghiệp; tín ngưỡng và tôn giáo).
    • Đặc điểm hình thức giao tiếp: 2 hình thức (giao tiếp trực tiếp và giao tiếp gián tiếp).
    • Đặc điểm phương tiện giao tiếp: 2 nhóm phương tiện (giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ).
  • Phạm vi địa bàn: 3 trường đại học trọng điểm trong vùng gồm Trường Đại học An Giang, Trường Đại học Trà Vinh và Trường Đại học Cần Thơ.
  • Phạm vi khách thể: Tổng số 426 sinh viên người Khmer tham gia khảo sát chính thức; 50 sinh viên khảo sát thử; 3 sinh viên tham gia phỏng vấn sâu; cùng 50 giảng viên, cán bộ quản lý tham gia phỏng vấn.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các hướng tiếp cận nghiên cứu về giao tiếp và đặc điểm giao tiếp ở cả phạm vi quốc tế lẫn trong nước.

Trên thế giới, nghiên cứu về bản chất giao tiếp được tác giả phân loại theo ba quan điểm lý thuyết chính:

  • Quan điểm coi giao tiếp là quá trình truyền thông tin: Điển hình là quan niệm của Peter Drucker, J. Gruere (nhấn mạnh chuỗi nguồn, kênh, địa chỉ), H. Lasswell (xem giao tiếp là quá trình hai chiều chia sẻ thông điệp chung), và K. Platonov cùng cộng sự (giao tiếp là trao đổi thông tin và tác động tương hỗ trên cơ sở phản ánh tâm lý).
  • Quan điểm coi giao tiếp là một dạng hoạt động: Tiêu biểu là công trình của A.N. Leontiev (1974, 1979) xem giao tiếp là hệ thống các quá trình có mục đích, có động cơ để bảo đảm tương tác xã hội bằng phương tiện chuyên biệt; Pat Petrie; J.C. Schmidt (1988) coi giao tiếp là hoạt động tiếp xúc, trao đổi tư tưởng, tình cảm và phối hợp hành động. Các công trình ở Liên Xô giai đoạn cuối thế kỷ XX như của tập thể tác giả Leningrad (1972), X. Xocopnhin (1973), E. Surcanova (1985), M. Kagan (1988).
  • Quan điểm coi giao tiếp là phạm trù tương đối độc lập với hoạt động: B.F. Lomov (1975, 1981) khẳng định giao tiếp là quá trình đa chiều đồng chủ thể, kết quả của giao tiếp không phải là cải tạo khách thể mà là cải tạo mối quan hệ giữa người với người.
  • Nghiên cứu về giao tiếp của sinh viên: Ann Bainbridge Frymier (2005 - Đại học Ohio) về mối liên hệ giữa hiệu quả giao tiếp và kết quả học tập; Fiocco và Fleming (2007) về nâng cao giao tiếp qua tiếp biến văn hóa đại học; Ju Seong Lee và JunChen Hsieh (2019 - Đài Loan) về giao tiếp trong môi trường kỹ thuật số; Misha Ketchell (2020) về sự chuyển đổi đa phương thức giao tiếp đại học; Anna Korochentseva và Nelli Khachaturyan (2021 - Nga) về xu hướng lựa chọn giao tiếp gián tiếp qua mạng xã hội của sinh viên.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu lý luận tâm lý học về giao tiếp bao gồm công trình của Phạm Minh Hạc (1996) với thuật ngữ "giao lưu", Ngô Công Hoàn (1995) về giao tiếp sư phạm, Từ điển Tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện (1995), Trần Thị Minh Đức (2008), Vũ Dũng (2000), Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến và Trần Quốc Thành (1995). Về nghiên cứu đặc điểm giao tiếp trên các đối tượng cụ thể, tác giả điểm lại các công trình: Phùng Thị Hằng (2007) về học sinh THPT dân tộc Tày, Nùng; Nguyễn Văn Đồng (2007) về giao tiếp ngoài giảng đường của sinh viên; Đậu Minh Long (2012) về học sinh THCS Tà Ôi và Cà Tu tại Thừa Thiên Huế; Phạm Song Hà (2012) về học sinh THCS dân tộc Mường; Bùi Thị Vân Anh (2013) về người nghỉ hưu tại Hà Nội; Trần Thị Xuyến (2014) về học sinh THCS dân tộc Chăm; Nguyễn Thị Hồng Vân (2018) về cô giáo mầm non; Vũ Thúy Ngọc (2019) về người cao tuổi ở viện dưỡng lão; Vũ Trường Giang (2022) về đặc điểm tâm lý các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc.

Về cộng đồng Khmer và sinh viên Khmer:

  • Nghiên cứu văn hóa, lịch sử và tâm lý người Khmer Nam Bộ: Phan Khoang (1969), Lê Hương (1969), Mạc Đường (1984), Ngô Đức Thịnh (1992), Huỳnh Thanh Quang (2000), Trường Lưu (1993), Huỳnh Văn Chẩn (2014) về tính cách người Khmer; Bùi Thị Hồng Loan (2018) về tập quán chào hỏi sompiah; Sơn Nam về địa chí văn hóa; Marin, Marie A. và Georges Maspéro về ngôn ngữ và phong tục.
  • Nghiên cứu sinh viên Khmer: Billy Wong (2016) về khát vọng học tập của thanh niên thiểu số; Phạm Văn Tuân (2016) về khó khăn tâm lý trong học tập của sinh viên năm nhất tại Đại học Trà Vinh; Nguyễn Thị Bích Phượng (2018) về nhu cầu học tập; Nguyễn Thị Thúy (2020) về kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập; Ngô Thị Thanh Thúy (2021) về tương tác học tập trên lớp.

Khoảng trống được luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu hiện có mới khảo sát từng khía cạnh riêng rẽ (như kỹ năng, khó khăn thích ứng năm đầu, hoặc nhu cầu học tập), hoặc tiếp cận từ góc độ dân tộc học, văn hóa học. Chưa có nghiên cứu nào làm rõ toàn diện mô hình cấu trúc 4 thành tố (đối tượng, nội dung, hình thức, phương tiện) của đặc điểm giao tiếp ở sinh viên Khmer vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, cũng như phân tích mức độ tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan đến các thành tố này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

Luận án dựa trên quan điểm tâm lý học hoạt động của A.N. Leontiev làm nền tảng tư tưởng chỉ đạo, kết hợp sự kế thừa quan điểm của B.F. Lomov về tính đa chiều và bản chất đồng chủ thể trong tiếp xúc tâm lý. Về mặt phương pháp luận, tác giả vận dụng 3 hướng tiếp cận:

  • Tiếp cận hoạt động: Xem giao tiếp là hoạt động thực tiễn diễn ra trong bối cảnh học tập, sinh hoạt hàng ngày của sinh viên.
  • Tiếp cận liên văn hóa: Vận dụng mô hình của Sitaram và Lawrence (1979) để giải thích cách thức các hệ giá trị văn hóa, tín ngưỡng Phật giáo Nam Tông và truyền thống Phum sóc quy định hành vi giao tiếp.
  • Tiếp cận hệ thống và hệ thống sinh thái: Đặt hành vi giao tiếp của cá nhân trong mối tương tác chỉnh thể với gia đình, nhà trường, cộng đồng và các tổ chức xã hội.

Các khái niệm công cụ được định nghĩa trong luận án gồm:

  • Sinh viên người Khmer: Là những người thuộc dân tộc Khmer theo học chính khóa tập trung tại các trường đại học.
  • Giao tiếp của sinh viên người Khmer: Là sự tiếp xúc tâm lý giữa sinh viên người Khmer với mọi người nhằm vận hành các quan hệ xã hội, được thực hiện với đối tượng, nhu cầu, mục đích, nội dung, hình thức, phương tiện và điều kiện xác định.
  • Đặc điểm giao tiếp của sinh viên người Khmer: Là những nét đặc trưng, nổi bật thể hiện trong sự tiếp xúc tâm lý của sinh viên người Khmer với người khác nhằm vận hành các quan hệ xã hội. Tính đặc trưng thể hiện ở nét riêng biệt tiêu biểu; tính nổi bật thể hiện ở mức độ biểu hiện đậm nét so với sinh viên các dân tộc khác.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu lý luận: Phân tích, tổng hợp các văn bản, công trình khoa học trong và ngoài nước để xác lập khung lý thuyết.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát thực nghiệm trên mẫu ngẫu nhiên phân tầng gồm 426 sinh viên chính thức tại 3 trường đại học (sau giai đoạn điều tra thử 50 bảng).
  • Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân: Thực hiện trên 3 trường hợp sinh viên điển hình và 50 cán bộ, giảng viên đại học nhằm thu thập dữ liệu định tính chuyên sâu.
  • Phương pháp quan sát: Ghi nhận hành vi giao tiếp trong lớp học, hoạt động nhóm, lễ hội và sinh hoạt ngoại khóa.
  • Phương pháp nghiên cứu chân dung tâm lý (nghiên cứu trường hợp điển hình): Khắc họa chi tiết hồ sơ tâm lý và phong cách giao tiếp của 3 sinh viên đại diện.
  • Phương pháp thực nghiệm tác động tâm lý: Thiết kế chương trình can thiệp tâm lý tác động và so sánh đối chiếu kết quả trước - sau thực nghiệm.
  • Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm thống kê để tính điểm trung bình (Mean), độ lệch chuẩn (SD), phân tích tương quan, kiểm định sai biệt và phân tích hồi quy tác động.
Hạng mục phương pháp Quy mô / Địa bàn thực hiện Mục đích dữ liệu
Điều tra thử bằng bảng hỏi 50 sinh viên người Khmer Chuẩn hóa bảng câu hỏi khảo sát
Khảo sát chính thức bằng bảng hỏi 426 sinh viên người Khmer tại 3 trường Đo lường thực trạng 4 thành tố giao tiếp và các yếu tố ảnh hưởng
Phỏng vấn sâu giảng viên, cán bộ 50 giảng viên, cán bộ quản lý (An Giang, Trà Vinh, Cần Thơ) Đánh giá khách quan từ phía nhà trường về sinh viên Khmer
Phỏng vấn sâu sinh viên & chân dung tâm lý 3 sinh viên điển hình (năm 1, năm 3, năm 4) Phân tích sâu động cơ, cảm xúc và bối cảnh cá nhân
Thực nghiệm tác động Nhóm sinh viên thực nghiệm tại trường đại học Kiểm chứng hiệu quả của các biện pháp tâm lý can thiệp

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương này trình bày lịch sử nghiên cứu vấn đề từ tổng quát đến cụ thể qua bốn mảng tài liệu: các nghiên cứu về bản chất của giao tiếp; các nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp của các nhóm xã hội và lứa tuổi; các nghiên cứu dân tộc học, văn hóa học về người Khmer Nam Bộ; và các công trình về tâm lý, kỹ năng học tập của sinh viên người Khmer.

Tác giả phân tích các khoảng trống: các công trình dân tộc học (Phan Khoang, Lê Hương, Mạc Đường, Huỳnh Văn Chẩn) tập trung nhiều vào phong tục tập quán, tín ngưỡng Phật giáo Nam Tông, cấu trúc Phum sóc hoặc mô tả tính cách chung (thật thà, vị tha, sùng đạo). Một số nghiên cứu tâm lý học gần đây tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long mới chỉ dừng lại ở khó khăn học tập của sinh viên năm thứ nhất (Phạm Văn Tuân), nhu cầu học tập (Nguyễn Thị Bích Phượng) hoặc kỹ năng giao tiếp trong phạm vi hẹp của giờ học (Nguyễn Thị Thúy). Tác giả xác định sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về 4 đặc điểm giao tiếp (đối tượng, nội dung, hình thức, phương tiện) gắn liền với bối cảnh tiếp biến văn hóa đại học của sinh viên Khmer.

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN NGƯỜI KHMER

Chương 2 thiết lập khung khái niệm và phân tích các cấu thành tâm lý trong giao tiếp của sinh viên Khmer:

  • Phân tích vị thế xã hội, đặc điểm nhận thức, ngôn ngữ và đời sống tình cảm của sinh viên người Khmer: nhận thức giàu tư duy trực quan cụ thể; tình cảm bền vững, chân thành, cố kết cộng đồng cao nhưng dễ tự ti; hiện tượng song ngữ tự nhiên nhưng vốn từ tiếng Việt học thuật còn hạn chế.
  • Cấu trúc giao tiếp của sinh viên người Khmer gồm: chủ thể, đối tượng, nhu cầu, mục đích, nội dung, hình thức và phương tiện.
  • Phân tích chi tiết 4 thành tố đặc điểm giao tiếp:
    • Đặc điểm đối tượng: Tương tác với gia đình, bạn bè (cùng dân tộc và khác dân tộc), giảng viên, và các tổ chức xã hội (Đoàn, Hội, Chi hội sinh viên dân tộc).
    • Đặc điểm nội dung: 7 nội dung về học tập, tình cảm lứa đôi, kỹ năng sống - sức khỏe, kinh tế, đời sống văn hóa - thể thao, hướng nghiệp và tín ngưỡng - tôn giáo.
    • Đặc điểm hình thức: Phân chia theo phương thức (trực tiếp và gián tiếp qua công nghệ, mạng xã hội) và theo tính chất tổ chức (chính thức trong học thuật và không chính thức ngoài giờ lên lớp).
    • Đặc điểm phương tiện: Phương tiện ngôn ngữ (ngôn ngữ nói, viết, thói quen dùng tiếng mẹ đẻ, hiện tượng mã hóa chữ Khmer bằng phiên âm Latinh) và phi ngôn ngữ (nghi thức vái chào sompiah, điệu múa truyền thống, trang phục, cử chỉ hành lễ chùa chiền).
  • Luận giải hai nhóm yếu tố ảnh hưởng: nhóm yếu tố chủ quan (nhận thức vai trò, vị thế cá nhân, tính cách, đặc điểm tâm lý cá nhân) và nhóm yếu tố khách quan (yếu tố văn hóa, gia đình, phong tục tập quán, môi trường đại học và phương thức tổ chức hoạt động của các tổ chức xã hội).

Chương 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này mô tả tiến trình tổ chức nghiên cứu thực tiễn qua các bước: chọn mẫu khảo sát, xây dựng công cụ đo lường và tiến hành thu thập dữ liệu. Khách thể gồm 426 sinh viên người Khmer phân bố tại 3 cơ sở đào tạo: Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Trà Vinh và Trường Đại học An Giang.

Tác giả trình bày hệ thống các tiêu chí đánh giá mức độ biểu hiện đặc điểm giao tiếp thông qua thang đo Likert tương ứng cho từng thành tố đối tượng, nội dung, hình thức và phương tiện. Chương 3 cũng xác lập quy trình xử lý số liệu bằng thống kê toán học (kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích tần số, điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định t-test, ANOVA để so sánh theo giới tính, năm học, ngành học, cùng các mô hình hồi quy tuyến tính xác định mức độ tác động của các yếu tố). Ngoài ra, tác giả thuyết minh chi tiết phương pháp nghiên cứu 3 trường hợp điển hình và quy trình thiết kế bài tập thực nghiệm tác động tâm lý.

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN NGƯỜI KHMER VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Chương 4 là chương trọng tâm của luận án, trình bày các kết quả thực nghiệm định lượng và định tính:

  • Mức độ biểu hiện chung: Sinh viên người Khmer có mức độ tích cực giao tiếp trung bình, bộc lộ rõ tính khép kín và xu hướng ưu tiên tương tác trong nhóm cùng dân tộc.
  • Thực trạng 4 thành tố đặc điểm giao tiếp:
    • Về đối tượng: Tần suất tiếp xúc cao nhất là với người thân trong gia đình và bạn bè cùng dân tộc; giao tiếp với giảng viên và các tổ chức xã hội ở mức độ thấp hơn do tâm lý e ngại quyền uy.
    • Về nội dung: Tương tác tập trung nhiều vào vấn đề học tập và hướng nghiệp; các nội dung về tình cảm lứa đôi, giới tính, sức khỏe sinh sản có nhu cầu cao nhưng mức độ cởi mở chia sẻ rất thấp do rào cản tâm lý e thẹn truyền thống. Nội dung văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo giữ vị trí ổn định và thường xuyên.
    • Về hình thức: Sinh viên có xu hướng ưu tiên lựa chọn hình thức giao tiếp gián tiếp qua mạng xã hội (Facebook, Zalo, TikTok) và điện thoại nhiều hơn so với giao tiếp trực tiếp mặt đối mặt khi cần bày tỏ quan điểm cá nhân hoặc phản biện trên lớp.
    • Về phương tiện: Sinh viên kết hợp song ngữ, nhưng khi nói chuyện nội bộ thường dùng tiếng Khmer hoặc viết tin nhắn bằng tiếng Khmer phiên âm; phương tiện phi ngôn ngữ thể hiện đậm nét văn hóa Khmer thông qua cử chỉ vái chào (sompiah), ngôn ngữ cơ thể biểu cảm qua các điệu múa truyền thống và thực hành tín ngưỡng (đeo chỉ đỏ cầu an, vái Phật).
  • So sánh biến số: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về đặc điểm giao tiếp giữa sinh viên các năm học (sinh viên năm thứ ba, thứ tư tự tin và đa dạng hóa hình thức hơn sinh viên năm thứ nhất) và ngành học (sinh viên khối ngành sư phạm, xã hội có kỹ năng giao tiếp tốt hơn khối ngành nông nghiệp, kỹ thuật).
  • Phân tích các yếu tố ảnh hưởng:
    • Cảm nhận của sinh viên về vai trò, vị thế của bản thân trong gia đình và xã hội là yếu tố chủ quan có tác động mạnh nhất đến hình thức giao tiếp.
    • Cách thức tổ chức hoạt động của các tổ chức xã hội (Đoàn, Hội sinh viên) tại trường đại học là yếu tố khách quan tác động mạnh nhất đến đối tượng giao tiếp.
    • Sự phối hợp tổng hòa các yếu tố chủ quan có mức độ ảnh hưởng lớn nhất đến phương tiện giao tiếp; tổng hợp các yếu tố khách quan chi phối trực tiếp đến nội dung và đối tượng giao tiếp.
  • Kết quả nghiên cứu 3 trường hợp điển hình:
    • Trường hợp 1: Anh Chau S. (sinh viên năm thứ nhất, Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ; quê huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng) thể hiện sự rụt rè rõ rệt, rào cản tiếng Việt phổ thông khi mới nhập học, chỉ giao tiếp với bạn cùng phòng là người Khmer.
    • Trường hợp 2: Chị Thị G. (sinh viên năm thứ tư, Khoa Sư phạm, Trường Đại học Trà Vinh; quê huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh) đã cải thiện kỹ năng giao tiếp học thuật nhờ môi trường rèn luyện sư phạm, song vẫn duy trì thói quen giao tiếp gián tiếp trong các mối quan hệ cá nhân.
    • Trường hợp 3: Chị Néang Kim A. (sinh viên năm thứ ba, Khoa Luật và Khoa học Chính trị, Trường Đại học An Giang; quê xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) có nhận thức chính trị xã hội tốt, tự tin trong phương tiện giao tiếp nhưng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tập tục gia đình và định kiến giới.
  • Kết quả thực nghiệm tâm lý: Luận án xây dựng và tổ chức thực nghiệm các biện pháp tâm lý can thiệp. Bảng đối chiếu kết quả trước và sau tác động cho thấy sự cải thiện rõ rệt về tính chủ động, tần suất tương tác trực tiếp với thầy cô và mức độ tự tin khi sử dụng ngôn ngữ học thuật của nhóm thực nghiệm so với nhóm đối chứng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về đặc điểm giao tiếp của sinh viên dân tộc thiểu số, cụ thể là sinh viên người Khmer. Đóng góp lý luận thể hiện qua việc xây dựng mô hình cấu trúc đặc điểm giao tiếp gồm 4 thành tố: đối tượng, nội dung, hình thức và phương tiện giao tiếp, gắn liền với các tiêu chí đánh giá mức độ biểu hiện tâm lý. Công trình làm sáng tỏ bản chất của sự tương tác giữa yếu tố bản sắc văn hóa tộc người (tín ngưỡng Phật giáo Nam Tông, sinh hoạt Phum sóc) với các yêu cầu của môi trường giáo dục đại học hiện đại.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Luận án cung cấp bức tranh thực trạng về đặc điểm giao tiếp của sinh viên người Khmer tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long: xác định đối tượng tương tác chủ yếu là bạn bè cùng dân tộc; nội dung trao đổi tập trung vào học tập nhưng e dè trong đời sống tình cảm riêng tư; hình thức giao tiếp gián tiếp qua mạng xã hội chiếm ưu thế; phương tiện giao tiếp mang nét văn hóa tộc người rõ rệt (dùng tiếng Khmer phiên âm, cử chỉ vái chào sompiah, biểu cảm cơ thể qua điệu múa truyền thống).
  • Luận án lượng hóa mức độ tác động của các yếu tố tâm lý xã hội: chỉ rõ nhận thức về vai trò, vị thế cá nhân là yếu tố tác động mạnh nhất đến hình thức giao tiếp; phương thức tổ chức hoạt động của các tổ chức xã hội trong nhà trường tác động mạnh nhất đến đối tượng giao tiếp.
  • Đề xuất và kiểm chứng thực nghiệm hệ thống 3 nhóm biện pháp tâm lý can thiệp:
    1. Tăng cường nhận thức về tầm quan trọng của giao tiếp cho sinh viên người Khmer.
    2. Cải thiện các mối quan hệ liên nhân cách của sinh viên người Khmer trong môi trường trường đại học (giữa sinh viên với giảng viên và bạn học khác dân tộc).
    3. Đổi mới nội dung và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội, câu lạc bộ, chi hội sinh viên dân tộc Khmer tại các cơ sở giáo dục đại học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, phạm vi địa bàn khảo sát của luận án mới tập trung tại 3 cơ sở đào tạo (Trường Đại học An Giang, Trường Đại học Trà Vinh và Trường Đại học Cần Thơ), chưa bao quát hết sinh viên người Khmer đang theo học tại các trường đại học khác trong vùng (như Trường Đại học Kiên Giang) hoặc các trường ngoài khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Về đối tượng khách thể, nghiên cứu giới hạn ở sinh viên hệ chính quy tập trung, chưa khảo sát các hệ đào tạo khác (vừa làm vừa học, liên thông).

Về hướng nghiên cứu tiếp, các công trình sau có thể mở rộng nghiên cứu đặc điểm giao tiếp của sinh viên Khmer trong các môi trường số hóa sâu rộng hơn, nghiên cứu biến đổi tâm lý ngôn ngữ trong quá trình hòa nhập thị trường lao động sau tốt nghiệp, hoặc tiến hành các khảo cứu so sánh xuyên tộc người giữa sinh viên Khmer với sinh viên người Hoa, người Chăm tại vùng Tây Nam Bộ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Dân tộc học và Văn hóa học: Tham khảo khung lý thuyết, hệ thống bảng hỏi đo lường đặc điểm giao tiếp 4 thành tố và phương pháp tiếp cận liên văn hóa trong nghiên cứu tâm lý tộc người.
  • Cán bộ quản lý giáo dục, phòng công tác sinh viên, tổ chức Đoàn - Hội tại các trường đại học có đào tạo sinh viên dân tộc thiểu số: Ứng dụng các phát hiện thực tiễn để đổi mới phương thức quản lý, xây dựng môi trường giao tiếp đa văn hóa thân thiện, thiết kế các chương trình rèn luyện kỹ năng mềm phù hợp với tâm lý sinh viên Khmer.
  • Các cơ quan hoạch định chính sách dân tộc và giáo dục tại khu vực Tây Nam Bộ: Sử dụng các số liệu thực trạng để tham mưu chính sách hỗ trợ học tập, hướng nghiệp và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là người dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát thực trạng trên quy mô mẫu và địa bàn cụ thể nào?

Khảo sát thực trạng được thực hiện trên mẫu định lượng chính thức gồm 426 sinh viên người Khmer đang theo học hệ chính quy tập trung tại 3 trường đại học thuộc vùng Đồng bằng Sông Cửu Long: Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Trà Vinh và Trường Đại học An Giang (trước đó có giai đoạn điều tra thử trên 50 sinh viên). Nghiên cứu định tính bổ trợ gồm phỏng vấn sâu 3 trường hợp sinh viên điển hình và 50 cán bộ quản lý, giảng viên tại 3 trường này.

2. Về phương tiện và hình thức giao tiếp, sinh viên người Khmer có những nét đặc thù nào?

Về phương tiện, sinh viên sử dụng song ngữ tự nhiên, trong đó có thói quen viết tin nhắn bằng tiếng Khmer mã hóa qua chữ phiên âm Latinh; phương tiện phi ngôn ngữ mang đậm dấu ấn văn hóa tộc người như kiểu vái chào sompiah (chắp hai tay trước ngực cúi nhẹ đầu), ngôn ngữ cử chỉ hình thể qua điệu múa truyền thống và các hành vi tín ngưỡng (đeo chỉ đỏ hộ mệnh, viếng chùa). Về hình thức, sinh viên có xu hướng ưu tiên giao tiếp gián tiếp qua mạng xã hội (Facebook, Zalo) nhiều hơn tương tác trực tiếp mặt đối mặt, đặc biệt khi phải bày tỏ quan điểm học thuật hoặc tranh luận trước tập thể.

3. Yếu tố nào có mức độ tác động mạnh nhất đến các thành tố giao tiếp của sinh viên Khmer?

Theo kết quả hồi quy và phân tích định lượng của luận án, cảm nhận của sinh viên về vai trò, vị thế của bản thân trong gia đình và xã hội là yếu tố chủ quan tác động mạnh nhất đến hình thức giao tiếp. Cách thức tổ chức hoạt động của các tổ chức xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên, chi hội dân tộc) tại trường đại học là yếu tố khách quan tác động mạnh nhất đến đối tượng giao tiếp. Sự phối hợp tổng thể các yếu tố chủ quan ảnh hưởng mạnh nhất đến phương tiện giao tiếp; trong khi tổng hợp các yếu tố khách quan ảnh hưởng mạnh nhất đến nội dung và đối tượng giao tiếp.

4. Ba trường hợp nghiên cứu chân dung tâm lý điển hình trong luận án là ai?

Luận án tiến hành nghiên cứu sâu 3 trường hợp:

  • Anh Chau S.: Sinh viên năm thứ nhất, Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ (quê quán huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng).
  • Chị Thị G.: Sinh viên năm thứ tư, Khoa Sư phạm, Trường Đại học Trà Vinh (quê quán huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh).
  • Chị Néang Kim A.: Sinh viên năm thứ ba, Khoa Luật và Khoa học Chính trị, Trường Đại học An Giang (quê quán xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang).

5. Luận án đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý can thiệp nào và hiệu quả ra sao?

Tác giả đề xuất 3 nhóm biện pháp: (1) Tăng cường nhận thức về giao tiếp cho sinh viên; (2) Cải thiện mối quan hệ liên nhân cách trong nhà trường đại học; (3) Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội sinh viên Khmer. Kết quả thực nghiệm tác động tâm lý đối chiếu trước và sau can thiệp cho thấy mức độ tự tin, khả năng sử dụng phương tiện ngôn ngữ tiếng Việt và tần suất tham gia tương tác trực tiếp của nhóm sinh viên thực nghiệm có sự gia tăng rõ rệt so với trước tác động.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Minh Nhựt là công trình nghiên cứu chuyên ngành Tâm lý học, giải quyết khoảng trống học thuật về đặc điểm giao tiếp của sinh viên người Khmer tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Bằng việc kết hợp tiếp cận hoạt động, tiếp cận liên văn hóa và hệ thống sinh thái, luận án đã làm rõ thực trạng 4 thành tố giao tiếp (đối tượng, nội dung, hình thức, phương tiện) trên mẫu khảo sát 426 sinh viên tại 3 trường đại học trọng điểm trong vùng. Kết quả nghiên cứu xác định các nét đặc trưng tâm lý - văn hóa tộc người chi phối hành vi giao tiếp, đồng thời chỉ ra mức độ tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan đến từng thành tố. Hệ thống biện pháp tâm lý can thiệp và kết quả thực nghiệm được trình bày trong luận án cung cấp cơ sở khoa học cho công tác giáo dục, quản lý và hỗ trợ hòa nhập cho sinh viên người dân tộc Khmer trong môi trường giáo dục đại học.