Tổng quan luận án

Công trình luận án tiến sĩ địa chất của nghiên cứu sinh Lê Hoài Nga với đề tài "Đặc điểm địa hóa và thạch học hữu cơ của than và sét than trong trầm tích Miocen khu vực phía bắc bể Sông Hồng" được thực hiện tại Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, thuộc chuyên ngành Khoáng vật học và Địa hóa học (mã số: 62 44 02 05), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Trần Nghi và TS. Trần Đăng Hùng (bảo vệ năm 2015).

Trong công tác đánh giá địa hóa đá mẹ sinh dầu khí truyền thống, các phương pháp hóa học (như nhiệt phân Rock-Eval, sắc ký lỏng, sắc ký khí, sắc ký khối phổ) thường được sử dụng nhằm lượng hóa các chỉ số phát sinh hydrocacbon. Tuy nhiên, hệ phương pháp này chỉ cung cấp các giá trị trung bình tổng thể, không phản ánh rõ nét tính không đồng nhất, phức tạp của vật chất hữu cơ phân tán và tập trung. Ngược lại, phương pháp quang học phân tích thạch học hữu cơ (thạch học than) cho phép quan sát trực tiếp các vi phần hữu cơ (maceral), xác định nguồn vật liệu tiền thân, điều kiện bảo tồn và môi trường tích tụ. Trước thời điểm nghiên cứu, hướng tiếp cận kết hợp thạch học hữu cơ và địa hóa ở bể Sông Hồng chủ yếu tập trung vào các thành tạo trầm tích Oligocen trên đất liền và đảo Bạch Long Vĩ (dự án ENRECA), trong khi các tầng trầm tích chứa than và sét than Miocen trong các giếng khoan thăm dò ngoài khơi phía bắc bể Sông Hồng mới chỉ có một số phân tích mẫu đơn lẻ từ thập niên 1990 của các nhà thầu dầu khí. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà luận án hướng tới giải quyết.

Mục tiêu chính của luận án là ứng dụng phương pháp quang học phân tích thành phần maceral của than, sét than thu thập ở Bắc bể Sông Hồng; đánh giá đặc điểm, nguồn gốc, loại vật liệu, môi trường thành tạo, điều kiện bảo tồn, mức độ biến chất và khả năng sinh hydrocacbon của than và sét than trong trầm tích Miocen khu vực nghiên cứu.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm hai nội dung:

  1. Phân tích đặc điểm thạch học hữu cơ, môi trường thành tạo và mức độ biến chất của đối tượng than và sét than trong trầm tích Miocen.
  2. Tổng hợp các tài liệu phân tích địa hóa, đánh giá khả năng sinh hydrocacbon của than và sét than trong trầm tích Miocen.

Hai luận điểm bảo vệ của luận án gồm:

  1. Than trong trầm tích Miocen khu vực nghiên cứu thuộc loại than humic; thành phần maceral nhóm huminit/vitrinit là chủ yếu. Nguồn vật liệu tạo than là cây bụi và ít thực vật bậc cao. Mức độ biến chất của than từ nhãn than á bitum đến than bitum chất bốc cao.
  2. Than á bitum - than bitum chất bốc cao và sét than trong trầm tích Miocen khu vực nghiên cứu chứa kerogen loại III và hỗn hợp của loại III và loại II, có tiềm năng sinh khí là chính.

Đối tượng nghiên cứu là các tập than và sét than trong trầm tích Miocen (gồm các phụ thống Miocen dưới, Miocen giữa và Miocen trên). Phạm vi không gian bao gồm diện tích các lô 102 - 106 ngoài khơi khu vực phía Bắc bể Sông Hồng và một phần diện tích lô MVHN-01KT trên Miền võng Hà Nội (MVHN), tập trung vào các mẫu từ ba giếng khoan 102-CQ-1X, 102-HD-1X và 01-KT-TB-08 nằm trong đới nghịch đảo kiến tạo Miocen. Phạm vi thời gian địa chất tập trung vào địa tầng Đệ Tam thống Miocen trong mối tương quan với lịch sử phát triển Kainozoi của toàn bể.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật lịch sử nghiên cứu địa chất trầm tích, thạch học than và địa hóa dầu khí từ các công trình quốc tế và trong nước:

Về địa tầng và cấu trúc bể Sông Hồng: Hệ thống phân vị địa tầng Kainozoi được kế thừa từ các công trình xác lập của Palustovich B. và Nguyễn Ngọc Cư (1972) với hệ tầng Phong Châu tại GK 100; Golovenok V. và Lê Văn Cân (1966) với hệ tầng Phủ Cừ tại GK 2 và hệ tầng Vĩnh Bảo tại GK 3; Phan Huy Quỳnh, Đỗ Bạt (1983) và Lê Văn Cự (1985) về tính chu kỳ trầm tích 3 nhịp của hệ tầng Phủ Cừ; Trịnh Dánh với các nghiên cứu cổ thực vật định tuổi hệ tầng Đình Cao, Phủ Cừ, Tiên Hưng; cùng các công trình tổng hợp cấu trúc kiến tạo của Trần Nghi, Đỗ Bạt và cộng sự.

Về lý thuyết thạch học than và biến đổi vật chất hữu cơ: Luận án dẫn xuất định nghĩa than từ Moore (1989) theo quan điểm sinh thái học, Teichmuller (1989) theo quá trình than hóa/trưởng thành nhiệt, và định nghĩa của Schopf (1956) về hàm lượng cacbon và nguồn gốc đầm lầy than bùn. Quá trình biến đổi nhiệt và phân loại nhãn than được đối chiếu theo Levin (1993), Tissot & Welte (1984), Flores (2014) và Stach et al. (1982). Durand (1980) chứng minh lượng chất chiết và alkan từ kerogen loại III và than đạt đỉnh khi độ phản xạ vitrinit đạt khoảng 0,8 - 0,9%.

Về mô hình cổ môi trường trầm tích than: Tác giả điểm lại hai mô hình vi thạch học phổ biến:

  • Mô hình Diessel (1986, 1992) sử dụng Chỉ số bảo tồn mô (Tissue Preservation Index - TPI) và Chỉ số keo hóa (Gelification Index - GI) để phân định tướng môi trường đầm lầy, đồng bằng châu thổ và ảnh hưởng của dao động mực nước ngầm.
  • Mô hình Calder (1991, Calder et al., 1991) sử dụng Chỉ số thực vật (Vegetation Index - VI) và Chỉ số ảnh hưởng nước ngầm (Groundwater Index - GWI) để phân biệt thảm thực vật giàu/nghèo lignin và điều kiện thủy văn.

Về hệ thống phân loại maceral và địa hóa đá mẹ: Luận án áp dụng hệ thống phân loại maceral của Ủy ban Quốc tế về Thạch học Than và Hữu cơ (ICCP 1998, 2001; Ssykorova et al., 2005) gồm 4 nhóm: Huminit, Vitrinit, Liptinit và Inertinit. Các tiêu chuẩn phân loại tiềm năng đá mẹ và kerogen qua Rock-Eval được tổng hợp từ Peters (1986), Hunt (1996), Tissot & Welte (1984), cùng phân loại steran $C_{27}-C_{28}-C_{29}$ của Huang & Meinschein (1979).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết là sự thiếu hụt các dữ liệu thạch học hữu cơ chi tiết về thành phần maceral, chỉ số cấu trúc mô thực vật, mức độ keo hóa và mối quan hệ với các thông số địa hóa nhiệt phân/chất chiết của than và sét than Miocen tại khu vực ngoài khơi phía Bắc bể Sông Hồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên lý thuyết than hóa qua 5 giai đoạn biến đổi của vật chất hữu cơ:

  1. Giai đoạn than bùn hóa (sinh hóa): Hoạt động phân hủy sinh vật kỵ khí trong phạm vi 10m bề mặt đầm lầy tạo than, diễn ra phản ứng cô đặc và polymer hóa tạo than bùn và than nâu.
  2. Giai đoạn khử nước (Dehydration / Vitrinit hóa): Nén ép đẩy nước lỗ rỗng, phân hủy bẻ gãy các nhóm chức chứa oxy (-OH, -COOH, -$OCH_3$, C=O), huminit maceral chuyển hóa thành vitrinit maceral, than chuyển từ nhãn á bitum C sang á bitum B (tương ứng điểm chớm trưởng thành).
  3. Giai đoạn bitum hóa (Bituminization): Kéo dài từ than á bitum A đến than bitum chất bốc cao A (tương ứng cửa sổ tạo dầu đến đỉnh tạo dầu), sinh hydrocacbon lỏng từ maceral nhóm liptinit và vitrinit giàu hydro.
  4. Giai đoạn khử bitum (Debituminization): Từ than bitum chất bốc cao A đến bitum chất bốc thấp, cracking nhiệt phân tử lớn thành phân tử nhỏ, tạo khí ẩm ($CH_4$) và condensate.
  5. Giai đoạn graphit hóa (Graphitization): Mất hydro nhanh chóng, tạo khí khô, độ phản xạ vitrinit tăng cao tương đương inertinit.

Hệ thống phân loại maceral theo ICCP được áp dụng để định danh các nhóm:

  • Nhóm Huminit (than nhãn thấp/than nâu): Gồm 3 phụ nhóm: Telohuminit (Textinit, Ulminit), Detrohuminit (Attrinit, Densinit), và Gelohuminit (Corpohuminit, Gelinit).
  • Nhóm Vitrinit (than nhãn trung bình - cao): Telovitrinit (Telinit, Telocollinit), Detrovitrinit (Vitrodetrinit, Desmocollinit), và Gelovitrinit (Corpogelinit, Gelocollinit).
  • Nhóm Liptinit: Cutinit, Suberinit, Sporinit, Resinit, Alginit, Bituminit, Exudatinit...
  • Nhóm Inertinit: Fusinit, Semifusinit, Inertodetrinit...

Các chỉ số định lượng cổ môi trường:

  • Chỉ số bảo tồn mô ($TPI$) và chỉ số keo hóa ($GI$) theo Diessel:

$$\text{TPI} = \frac{\text{Telinit} + \text{Telocollinit} + \text{Fusinit} + \text{Semifusinit}}{\text{Desmocollinit} + \text{Vitrodetrinit} + \text{Inertodetrinit}}$$

$$\text{GI} = \frac{\text{Tổng nhóm Vitrinit} + \text{Macrinit}}{\text{Semifusinit} + \text{Fusinit} + \text{Inertodetrinit}}$$

  • Chỉ số thực vật ($VI$) và chỉ số nước ngầm ($GWI$) theo Calder:

$$\text{VI} = \frac{\text{Telovitrinit} + \text{Suberinit} + \text{Resinit} + \text{Fusinit}}{\text{Detrovitrinit} + \text{Liptodetrinit} + \text{Alginit} + \text{Inertodetrinit}}$$

$$\text{GWI} = \frac{\text{Gelovitrinit} + \text{Khoáng vật}}{\text{Telovitrinit} + \text{Detrovitrinit}}$$

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Bộ dữ liệu thực tế gồm 24 mẫu than và sét than chọn lọc từ mùn khoan thuộc 3 giếng khoan thăm dò:

  • GK 102-CQ-1X (cấu tạo Cây Quất, Lô 102): 16 mẫu than và sét than.
  • GK 102-HD-1X (cấu tạo Hoa Đào, Lô 102): 02 mẫu than và sét than.
  • GK 01-KT-TB-08 (Lô MVHN-01KT, Miền võng Hà Nội): 06 mẫu than.

Các phương pháp phân tích thực nghiệm bao gồm:

  1. Phương pháp thạch học hữu cơ: Mẫu được đúc khối mài bóng, quan sát dưới kính hiển vi quang học phân cực trong môi trường dầu nhúng (độ phóng đại x25, x50) dưới ánh sáng trắng phản xạ và ánh sáng huỳnh quang phản xạ. Đếm điểm xác định thành phần phần trăm thể tích các nhóm maceral và khoáng vật.
  2. Phương pháp đo độ phản xạ Vitrinit ($R_o, %$): Đo cường độ ánh sáng phản xạ của maceral vitrinit trong dầu nhúng để định lượng mức độ biến chất nhiệt.
  3. Phương pháp nhiệt phân Rock-Eval: Xác định hàm lượng cacbon hữu cơ tổng số ($TOC, %$), hydrocacbon tự do ($S_1$), hydrocacbon sinh ra do nứt nhiệt kerogen ($S_2$), nhiệt độ đỉnh sinh nhiệt cực đại ($T_{max}$), chỉ số hydro ($HI = S_2 \times 100 / TOC$), chỉ số oxy ($OI$), chỉ số sản sinh ($PI$).
  4. Phương pháp sắc ký: Sắc ký lỏng (LC) tách các hợp phần no, thơm, nhựa, asphalten; sắc ký khí (GC) và sắc ký khí - khối phổ (GC-MS) phân tích các hydrocacbon no $C_{15+}$, tỷ số Pristan/Phytan ($Pr/Ph$), $Pr/nC_{17}$, $Ph/nC_{18}$, phân bố ion m/z 217 (steran $C_{27}, C_{28}, C_{29}$) và ion m/z 191 (hopan/terpan).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Địa chất khu vực nghiên cứu

Chương 1 tổng hợp bối cảnh kiến tạo và địa tầng khu vực nghiên cứu thuộc đới Tây Bắc bể Sông Hồng:

  • Cấu trúc địa chất: Bể Sông Hồng là bể trầm tích Kainozoi hình thoi kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam, bề dày trầm tích trũng trung tâm đạt tới 16 km. Đới Tây Bắc (gồm Miền võng Hà Nội và các lô 102-106) có cấu trúc uốn nếp phức tạp kèm nghịch đảo kiến tạo trong Miocen. Do chuyển động trượt bằng đổi dấu từ trái sang phải của đứt gãy Sông Hồng vào cuối Miocen, khu vực hình thành hàng loạt cấu tạo dạng hoa (flower structures) như Cây Quất, Hoa Đào, Hoàng Long, Bạch Long... Chiều dày trầm tích bị bóc mòn sau nghịch đảo được khôi phục qua địa chấn và $R_o$ có nơi vượt quá 1000m.
  • Đặc điểm địa tầng trầm tích:
    • Thống Eocen (Hệ tầng Phù Tiên - $E_2 pt$): Cát kết, bột kết màu tím gan gà, cuội kết hỗn tạp lấp đầy địa hào hẹp sụt lún nhanh, môi trường đầm hồ - tiền châu thổ; bề dày tại mặt cắt chuẩn GK 104 đạt 316m.
    • Thống Oligocen (Hệ tầng Đình Cao - $E_3 đc$): Phủ bất chỉnh hợp trên hệ tầng Phù Tiên, gồm cát kết xám sáng xen cuội sạn kết dạng puding, chuyển lên bột kết sét kết chứa bào tử phấn Trudopolis, Cicatricosisporites dorogensis; môi trường aluvi/đầm hồ.
    • Thống Miocen dưới (Hệ tầng Phong Châu - $N_1^1 pch$): Cát kết hạt mịn xen kẽ cát bột kết cấu tạo phân lớp gợn sóng mỏng dạng "sọc vằn"; bề dày 400 - 1400m; môi trường đồng bằng châu thổ xen kẽ các pha biển.
    • Thống Miocen giữa (Hệ tầng Phủ Cừ - $N_1^2 pc$): Bề dày 1500 - 2000m, gồm 3 nhịp trầm tích cát - bột - sét kết chứa than và tập hợp cổ sinh Globorotalia mayerii, Orbulina universa; môi trường đồng bằng châu thổ chuyển dần sang châu thổ ngập nước/tiền châu thổ ra phía biển.
    • Thống Miocen trên (Hệ tầng Tiên Hưng - $N_1^3 th$): Phân nhịp rõ rệt từ cát sạn kết sang sét bột kết xen nhiều lớp than nâu; tại GK 01-KT-TB-08 tổng độ dày vỉa than đạt 54,28m (gồm 37 vỉa); môi trường đồng bằng châu thổ đến tam giác châu ngập nước.
    • Thống Pliocen (Hệ tầng Vĩnh Bảo - $N_2 vb$): Bề dày 200 - 500m, trầm tích cát kết bở rời chứa hóa thạch biển (Globigerina), môi trường thềm biển.
    • Hệ Đệ Tứ: Gồm thống Pleistocen (Hệ tầng Hải Dương - $Q_1 hd$, dày 50 - 100m) và thống Holocen (Hệ tầng Kiến Xương - $Q_2 kx$, dày 20 - 100m).
  • Lịch sử tiến hóa địa chất: Gồm 4 giai đoạn: Tiền tách giãn (trước Eocen giữa), Tách giãn (Eocen giữa - Oligocen), Sau tách giãn - sụt lún oằn võng và mở rộng bể kèm nghịch đảo kiến tạo (Miocen), và Giai đoạn tạo thềm (Pliocen - Đệ Tứ).

Chương 2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 thiết lập cơ sở phân loại học thuật và quy trình thực nghiệm:

  • Trình bày chi tiết đặc điểm 4 nhóm maceral (Huminit, Vitrinit, Liptinit, Inertinit) theo tiêu chuẩn ICCP.
  • Phân tích cơ chế biến đổi hóa - lý trong 5 pha than hóa (than bùn hóa $\rightarrow$ khử nước $\rightarrow$ bitum hóa $\rightarrow$ khử bitum $\rightarrow$ graphit hóa) và mối tương quan với cửa sổ tạo dầu/khí của kerogen.
  • Thiết lập hệ thống công thức định lượng chỉ số cổ môi trường đầm lầy: TPI, GI (Diessel) và VI, GWI (Calder).
  • Tổng thuật tình hình nghiên cứu thạch học than thế giới và các công trình dự án ENRECA tại miền Bắc Việt Nam.
  • Trình bày quy trình kỹ thuật chuẩn bị mẫu mài bóng, kỹ thuật đo hiển vi huỳnh quang/ánh sáng trắng, chu trình nhiệt phân Rock-Eval và sơ đồ phân tích sắc ký GC/GC-MS.

Chương 3. Đặc điểm thạch học hữu cơ của than và sét than khu vực nghiên cứu

Chương 3 trình bày kết quả phân tích quang học định lượng và định tính trên các tập mẫu:

  • Thành phần maceral trong trầm tích Miocen dưới (GK 102-CQ-1X):
    • Nhóm Vitrinit chiếm ưu thế tuyệt đối (70 - 90% thể tích vật chất hữu cơ), chủ yếu là telocollinit và desmocollinit, corpogelinit.
    • Nhóm Liptinit xuất hiện với hàm lượng đáng kể, bao gồm cutinit (phân bố trên nền vitrinit), suberinit (phát quang yếu cộng sinh với corpogelinit), alginit trên nền chất hữu cơ vô định hình phát quang mạnh ở độ sâu 2240 - 2250m, resinit, bituminit và exudatinit.
    • Nhóm Inertinit chiếm tỷ lệ thấp (fusinit, inertodetrinit).
    • Quan sát thạch học ghi nhận bituminit và exudatinit lấp đầy các khe nứt của vitrinit; ghi nhận dấu hiệu dầu di thoát rõ rệt trong các khe nứt của mảnh vitrinit ở độ sâu 2680 - 2690m và 3000 - 3010m.
    • Khoáng vật đi kèm: Pyrit dạng trứng cá (framboidal pyrite) và khoáng vật cacbonat phân bố rải rác trên nền vitrinit.
  • Thành phần maceral trong trầm tích Miocen giữa (GK 102-HD-1X, GK 102-CQ-1X):
    • Nhóm Vitrinit chiếm ưu thế; ghi nhận dấu hiệu dầu di thoát lấp đầy khe nứt vitrinit cùng pyrit dạng trứng cá và cacbonat tại mẫu than độ sâu 3000 - 3010m (GK 102-HD-1X).
  • Thành phần maceral trong trầm tích Miocen trên (GK 01-KT-TB-08, MVHN):
    • Nhóm Huminit/Vitrinit chiếm chủ đạo với độ keo hóa biến thiên từ attrinit, densinit sang telocollinit, desmocollinit; nguồn gốc tàn tích mô thực vật thân bụi và cây cỏ.
  • Cổ môi trường thành tạo than:
    • Giá trị $TPI < 1$ và $VI < 3$ chiếm đa số trong các mẫu nghiên cứu, chỉ ra rằng nguồn thực vật tạo than chủ yếu là cây bụi nhỏ, cây cỏ đầm lầy nghèo lignin, ít thực vật thân gỗ bậc cao.
    • Chỉ số $GI$ và $GWI$ phản ánh môi trường đầm lầy ẩm ướt liên tục, đầm lầy bãi bồi/tam giác châu ngập nước chịu ảnh hưởng của các đợt ngập triều hoặc nước lợ ven biển (phù hợp với sự xuất hiện của pyrit dạng trứng cá $> 1%$).
Phân vị địa tầng Giếng khoan / Độ sâu tiêu biểu Nhóm Maceral chủ đạo Maceral nhóm Liptinit quan sát được Dấu hiệu khoáng vật & biến đổi
Miocen dưới GK 102-CQ-1X (2060m – 3010m) Vitrinit (70 – 90%) Cutinit, Suberinit, Alginit, Bituminit, Exudatinit Dầu di thoát trong khe nứt vitrinit (2680m, 3000m); Pyrit trứng cá, Cacbonat
Miocen giữa GK 102-HD-1X (3000m – 3010m) Vitrinit Cutinit, Resinit, Exudatinit Dầu di thoát trong khe nứt vitrinit (3000m); Pyrit trứng cá, Cacbonat
Miocen trên GK 01-KT-TB-08 (821m – 839m) Huminit / Vitrinit Sporinit, Cutinit, Resinit Mức độ than hóa thấp (á bitum), cấu trúc mô cây bụi/cây cỏ

Chương 4. Đặc điểm địa hóa và khả năng sinh dầu - khí của đá mẹ than và sét than khu vực nghiên cứu

Chương 4 kết hợp dữ liệu nhiệt phân và địa hóa phân tử đánh giá khả năng sinh hydrocacbon:

  • Đặc điểm địa hóa Rock-Eval:
    • Hàm lượng $TOC$ trong các vỉa than đạt $> 50%$, trong các lớp sét than đạt từ $2%$ đến $> 10%$, thuộc nhóm đá mẹ giàu vật chất hữu cơ.
    • Giá trị tiềm năng sinh $S_2$ và chỉ số hydro $HI$ (chủ yếu dao động trong khoảng $150 - 300\text{ mg HC/g TOC}$) xác định kerogen trong than và sét than Miocen thuộc Kerogen loại III và hỗn hợp Kerogen loại III - II.
    • Độ phản xạ vitrinit ($R_o$) tăng có quy luật theo chiều sâu: các mẫu than nông (Miocen trên GK 01-KT-TB-08) có $R_o \approx 0,45 - 0,55%$ (nhãn á bitum, chớm trưởng thành); các mẫu sâu $> 2500\text{m}$ (GK 102-CQ-1X và 102-HD-1X) có $R_o$ đạt $0,65 - 0,85%$ và $T_{max} > 435^\circ\text{C}$ (nhãn bitum chất bốc cao, nằm trọn trong cửa sổ tạo dầu - khí).
  • Đặc điểm chất chiết và dấu hiệu phân tử:
    • Sắc ký khí ($GC$) hợp phần no $C_{15+}$ cho thấy tỷ số $Pr/Ph > 1$, đồ thị quan hệ $Pr/nC_{17}$ so với $Ph/nC_{18}$ chỉ thị môi trường lắng đọng oxy hóa yếu đến khử yếu của trầm tích chứa vật chất hữu cơ lục địa.
    • Khối phổ ký ($GC\text{-}MS$, m/z 217) xác nhận ưu thế nổi trội của $C_{29}$ Steran (nguồn gốc thực vật bậc cao lục địa) so với $C_{27}$ và $C_{28}$ Steran.
    • Dải phân bố hydrocacbon no trong chất chiết than tại GK 102-CQ-1X tương đồng với dải hydrocacbon của các biểu hiện dầu ghi nhận trong trầm tích Miocen trên cùng giếng khoan.
  • Đánh giá tiềm năng sinh:
    • Than và sét than Miocen khu vực phía Bắc bể Sông Hồng có tiềm năng sinh khí là chủ đạo do ưu thế của kerogen loại III.
    • Đồng thời, ở các đới lún sâu ($R_o > 0,65%$), than và sét than có khả năng sinh dầu lỏng và condensate nhờ sự đóng góp của các maceral nhóm liptinit (cutinit, suberinit, alginit, bituminit) và các pha vitrinit giàu hydro.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Luận án đã ứng dụng phương pháp thạch học hữu cơ sử dụng ánh sáng phản xạ trắng và huỳnh quang để xác định hệ thống thành phần maceral, đặc điểm quang học và sự chuyển hóa maceral trong các giai đoạn than hóa của than và sét than Miocen vùng Tây Bắc bể Sông Hồng.
  2. Thiết lập được mối liên hệ giữa các chỉ số thạch học ($TPI, GI, VI, GWI$) với thông số địa hóa để làm sáng tỏ điều kiện cổ môi trường lắng đọng: than bùn Miocen hình thành trong môi trường đầm lầy ẩm ướt, đầm lầy đồng bằng châu thổ ngập nước chịu ảnh hưởng nước lợ/ven biển với vật liệu tiền thân chủ yếu là cây bụi và cây cỏ nhỏ.
  3. Đánh giá toàn diện tiềm năng sinh hydrocacbon của than và sét than Miocen: xác định kerogen thuộc loại III và hỗn hợp III-II, có tiềm năng sinh khí là chính, đồng thời chỉ ra khả năng sinh dầu/condensate của than bitum chất bốc cao thông qua bằng chứng vi quan sát về bituminit, exudatinit và sự di thoát dầu trong các vi khe nứt vitrinit.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị

  1. Cung cấp luận cứ khoa học khẳng định vai trò của các tập trầm tích lục nguyên chứa than và sét than Miocen như những tầng đá mẹ sinh khí và dầu quan trọng tại các lô ngoài khơi phía Bắc bể Sông Hồng (đặc biệt trong các cấu tạo nghịch đảo như Cây Quất, Hoa Đào).
  2. Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực tế để đưa phương pháp thạch học hữu cơ vào quy trình thường quy trong tìm kiếm thăm dò dầu khí và đánh giá tiềm năng khí than (CBM) tại Việt Nam.
  3. Kiến nghị mở rộng thu thập mẫu lõi và mẫu mùn khoan tại các cấu tạo lân cận ở bể Sông Hồng và các bể trầm tích Đệ Tam khác nhằm hoàn thiện bản đồ tướng địa hóa - thạch học hữu cơ trên toàn thềm lục địa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do tính chất tài liệu thu thập từ các giếng khoan thăm dò thực tế, số lượng mẫu phân tích thạch học hữu cơ còn hạn chế (24 mẫu tại 3 giếng khoan 102-CQ-1X, 102-HD-1X và 01-KT-TB-08); mẫu nghiên cứu chủ yếu là mẫu mùn khoan (cuttings), chưa có chuỗi mẫu lõi liên tục (core) đại diện cho toàn bộ các tập vỉa than trên toàn diện tích các lô ngoài khơi.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Thu thập bổ sung các mẫu lõi khoan từ các giếng khoan thăm dò mới; mở rộng nghiên cứu sang các khu vực trung tâm và phía Nam bể Sông Hồng; thực hiện các phân tích động học nhiệt phân (kinetics) để mô phỏng định lượng chi tiết hơn sản lượng khí và condensate di thoát theo thời gian địa chất.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Địa chất Dầu khí, Khoáng vật học, Địa hóa học và Địa tầng học: Tham khảo phương pháp phân loại maceral theo tiêu chuẩn ICCP, kỹ thuật hiển vi quang học huỳnh quang trong thạch học hữu cơ, và phương pháp tính toán các chỉ số cổ môi trường ($TPI, GI, VI, GWI$).
  • Kỹ sư địa chất, chuyên gia tìm kiếm thăm dò tại các đơn vị dầu khí (Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Viện Dầu khí Việt Nam, Tổng Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí): Tham khảo dữ liệu thực tế về thông số Rock-Eval, sắc ký phân tử GC-MS và đánh giá tiềm năng tầng đá mẹ than/sét than Miocen đới nghịch đảo bể Sông Hồng và Miền võng Hà Nội.

Câu hỏi thường gặp

1. Than và sét than Miocen khu vực phía Bắc bể Sông Hồng thuộc loại than nào và mức độ biến chất ra sao?

Than Miocen trong khu vực nghiên cứu thuộc loại than humic. Mức độ biến chất (nhãn than) tăng dần theo chiều sâu chôn vùi từ than á bitum ($R_o \approx 0,45 - 0,55%$ ở các giếng khoan nông vùng Miền võng Hà Nội như GK 01-KT-TB-08) đến than bitum chất bốc cao ($R_o \approx 0,65 - 0,85%$ ở các giếng khoan sâu ngoài khơi như GK 102-CQ-1X và 102-HD-1X).

2. Thành phần maceral chủ yếu trong than và sét than Miocen gồm những nhóm nào?

Thành phần maceral bị chi phối chủ yếu bởi nhóm Huminit/Vitrinit (chiếm 70 - 90% thể tích vật chất hữu cơ, gồm telocollinit, desmocollinit, corpogelinit). Nhóm Liptinit có mặt với tỷ lệ đáng kể gồm cutinit, suberinit, alginit, resinit, bituminit và exudatinit. Nhóm Inertinit chiếm tỷ lệ thấp (fusinit, inertodetrinit).

3. Bằng chứng vi quan sát nào chứng minh than Miocen có khả năng sinh và di thoát hydrocacbon dạng lỏng?

Dưới kính hiển vi quang học ánh sáng phản xạ và huỳnh quang dầu nhúng, tác giả đã quan sát thấy maceral bituminit và exudatinit lấp đầy các khe nứt của vitrinit, đồng thời ghi nhận hiện tượng dầu di thoát trực tiếp trong các vi khe nứt của mảnh vitrinit ở mẫu than các độ sâu 2680 - 2690m, 3000 - 3010m tại GK 102-CQ-1X và độ sâu 3000 - 3010m tại GK 102-HD-1X.

4. Các chỉ số TPI, GI, VI, GWI phản ánh điều gì về cổ môi trường tích tụ than bùn Miocen?

Các giá trị $TPI < 1$ và $VI < 3$ chỉ ra rằng nguồn vật liệu tạo than chủ yếu là cây bụi nhỏ và cây cỏ đầm lầy nghèo lignin, ít thực vật thân gỗ bậc cao. Chỉ số $GI$ và $GWI$ cùng sự có mặt của pyrit dạng trứng cá ($FeS_2 > 1%$) và khoáng vật cacbonat chứng minh than được tích tụ trong môi trường đầm lầy ẩm ướt liên tục thuộc đồng bằng châu thổ/tam giác châu ngập nước chịu ảnh hưởng của nước lợ ven biển.

5. Khả năng sinh dầu khí chính của các tầng than và sét than Miocen được đánh giá như thế nào?

Kết quả phân tích Rock-Eval và sắc ký phân tử ($C_{29}$ Steran chiếm ưu thế, $Pr/Ph > 1$) xác định vật chất hữu cơ thuộc Kerogen loại III và hỗn hợp loại III - II. Do đó, than và sét than Miocen có tiềm năng sinh khí là chủ đạo, đồng thời có khả năng sinh dầu nhẹ và condensate tại các khu vực lún sâu đạt ngưỡng trưởng thành nhiệt catagenes.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Lê Hoài Nga đã kết hợp phương pháp quang học thạch học hữu cơ và địa hóa truyền thống để nghiên cứu than và sét than trong trầm tích Miocen khu vực phía Bắc bể Sông Hồng. Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ thành phần maceral (nhóm huminit/vitrinit chiếm ưu thế), nguồn vật liệu tạo than từ thực vật cây bụi/cây cỏ đầm lầy đồng bằng châu thổ ngập nước, và mức độ biến chất từ á bitum đến bitum chất bốc cao. Luận án xác định kerogen thuộc loại III và hỗn hợp III-II với tiềm năng sinh khí là chính cùng khả năng sinh dầu/condensate tại các đới lún sâu, cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí trong khu vực.