mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. cho rằng “ Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể. Tolmachop đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500- 2000 loài.
Các nhà sinh vật học Nga tập chung các nghiên cứu vào việc xác định diện tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê được đầy đủ nhất số loài của từng hệ thực vật cụ thể. Việc xác định diện tích biểu hiện gồm các giai đoạn sau: 1. Kiểm kê số loài trên diện tích hạn chế nhất định. Mở rộng dần ra vùng đồng nhất và điều kiện địa lý tự nhiên để thấy mức độ tăng số lượng loài.
Khi số loài tăng không đáng kể thì xác định đó là diện tích biểu hiện tối thiểu. Nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam Lãnh thổ Việt Nam trải dài từ 8030’ Bắc đến 230 Nam. Sự khác biệt lớn về khí hậu và địa hình giữa các miền, tạo ra tính đa dạng về môi trường tự nhiên và ĐDSH. Các hệ sinh thái rất đa dạng: từ rừng mưa thường xạnh cận nhiệt đới ở phía Bắc cho tới rừng khộp nhiệt đới ở phía Nam, tới rừng ngập mặn và các hệ sinh thái gập nước ven biển.
Đến nay đã thống kê được gần 13.000 loài thực vật. Nhiều nhóm có tính đặc hữu cao, nhiều loài đặc hữu có giá trị khoa học và thực tiễn lớn [39,44, 47,48]. 13 Ngoài những tác phẩm nổi tiếng của Loureiro (1790), của Pierre (1879 – 1907), từ những năm đầu thế kỷ đã xuất hiện một số công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam. Một trong những công trình nổi tiếng đó là bộ “Thực vật chí Đông Dương” do H.
Lecomte chủ biên (1907 – 1952). Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương [45]. Riêng miền Bắc Pócs Tamás (1965) thống kê được 5190 loài, Phan Kế Lộc (1969) thống kê và bổ sung, nâng số loài ở miền Bắc lên 1660 chi và 140 họ. Trong đó có 5069 loài thực vật thuộc ngành hạt kín và 540 loài thuộc các ngành còn lại.
Gần đây, Aubréville khởi xướng và chủ biên bộ “Thực vật chí Campuchia, Lào, Việt Nam” (1960 – 1997) [18] cùng với nhiều tác giả khác đến nay đã công bố 29 tập nhỏ, gồm 74 họ cây có mạch (chưa đầy 20% tổng số họ đã có) (Ngô Tiến Dũng, 2006) [19]. Ngoài ra còn có công trình “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên từ năm 1969 – 1976 [24], “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” của phạm Hoàng Hộ giới thiệu 5326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài Rêu, còn lại 5246 loài thực vật có mạch [22] (Nguyễn Nghĩa Thìn – Nguyễn Thanh Nhàn, 2004) [44] Viện Điều tra Quy hoạch rừng Việt Nam (1971 – 1988) đã công bố 7 tập “ Cây gỗ rừng Việt Nam” giới thiệu khá chi tiết cùng với tranh vẽ minh hoạ. Đến năm 1996, công trình này được dịch ra tiếng Anh do Vũ Văn Dũng chủ biên. Đáng chú ý nhất phải kể đến bộ “Cây cỏ Việt nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) [20] xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam 14 hai năm (1999 – 2000) [21], đây là bộ sách khá đầy đủ và dễ sử dụng, góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam và là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng phân loại thực vật Việt Nam.
Từ năm 1995 – 2003, Nguyễn Nghĩa Thìn cùng một số tác giả khác đã công bố một số bài báo đa dạng thành phần loài ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, vùng núi đá vôi Hoà Bình, Sơn La, khu Bảo tồn Na Hang của Tuyên Quang, vùng núi cao Sa Pa – Phanxipang, Vùng ven biển Nam Trung Bộ, Vườn Quốc gia Ba Bể, Cát Bà, Bến En, Pù Mát, Phong Nha Kẻ Bàng, Cát Tiên…Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã công bố cuốn “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” [41] nhằm hướng dẫn cách đánh giá tính đa dạng thực vật của vùng nghiên cứu cho các Vườn Quốc gia và khu Bảo tồn trong cả nước (Ngô Tiến Dũng, 2006) [19]. Nghiên cứu về hệ thực vật ở Pù Hu Trong “Đề án xây dựng khu BTTN Pù Hu”, Viện Điều tra Quy hoạch rừng (1998), đã thống kê khu BTTN Pù Hu có 495 loài, 305 chi, 101 họ. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở bản danh lục thực vật sơ bộ mà chưa đi sâu vào nghiên cứu thảm thực vật. Năm 2010 có sinh viên Đại học Lâm nghiệp (Nguyễn Văn Phú): “ Nghiên cứu sự đa dạng thực vật thân gỗ tại Khu BTTN Pù Hu Thanh Hoá”).
Tuy nhiên, do thời gian ngằn và giới hạn của luận văn tốt nghiệp đại học nên công trình mới chỉ dừng lại ở mức điều tra và đánh giá sơ bộ. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu 2. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được tính đa dạng về các kiểu thảm thực vật và thành phần loài thực vật Khu BTTN Pù Hu.
- Xác định được nguyên nhân gây suy giảm đa dạng thực vật ở Khu BTTN Pù Hu để từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn Đa dạng thực vật có hiệu quả. Đối tượng nghiên cứu Bao gồm thảm thực vật, loài hệ thực vật bậc cao có mạch phân bố trong phạm vi khu BTTN Pù Hu và các nguyên nhân gây suy giảm đa dạng thực vật ở khu BTTN Pù Hu. Nội dung nghiên cứu 2. Đa dạng hệ thực vật - Xây dựng hoàn thiện danh lục thực vật tại khu BTTN Pù Hu một cách đầy đủ có hệ thống đến thời điểm nghiên cứu.
- Đa dạng bậc ngành và dưới ngành. - Đa dạng về dạng sống. - Đa dạng về về giá trị sử dụng và xác định các loài quý hiếm để có biện pháp bảo tồn. Đa dạng thảm thực vật Xác định các hệ thống phân loại một số kiểu thảm thực vật tại khu BTTN Pù Hu và mô tả chúng.
Các nguyên nhân gây suy giảm và đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật ở khu BTTN Pù Hu 2. Phương pháp nghiên cứu 2. Phương pháp kế thừa 16 Kế thừa các công trình có liên quan của các nhà khoa học đã nghiên cứu tại Khu BTTN Pù Hu trong những năm trước đây kể cả các văn bản, các cuộc hội nghị, hội thảo, các chương trình, kế hoạch hành động… 2. Phương pháp nghiên cứu về thảm thực vật Sử dụng ảnh bản đồ địa hình để xác định ranh giới các kiểu thảm thực vật từ đó xây dựng các tuyến nghiên cứu cũng như các điểm nghiên cứu cụ thể trước khi tiến hành nghiên cứu ngoài thực địa.
Từ bản đồ xây dựng sơ bộ đó, bằng hệ thống GPS xác định cụ thể các tuyến và các điểm nghiên cứu trên thực địa. Mỗi một điểm tiến hành đo đếm các chỉ tiêu, thu mẫu, mô tả, đánh giá cấu trúc và đánh giá tính đa dạng của các kiểu thảm thực vật. Các bước nghiên cứu thảm thực vật cụ thể tiến hành theo Nguyễn Nghĩa Thìn ( 1997) [41]. - Bước 1: Dựa trên cơ sở bản đồ thảm thực vật sơ thảo, đã xác định tuyến và nghiên cứu, sử dụng GPS để xác định các điểm cụ thể trên thực địa đại diện cho toàn bộ khu vực nghiên cứu.
- Bước 2: Quan trắc, đo đếm, mô tả và thu thập mẫu vật. - Bước 3: Xử lý tư liệu sau thực địa trong phòng thí nghiệm: xác định tên cây, tính toán các chỉ số và sau đó mô tả ô tiêu chuẩn. Bước 4: Trên cở sở phân loại của Thái Văn Trừng (1978) xây dựng hệ thống phân loại các kiểu thảm ở khu vực nghiên cứu. Nghiên cứu thực địa Các tuyến nghiên cứu: + Tuyến I: Tiểu khu 98 (xã Hiề n Chung) – Đỉnh Pù Hu (xã Trung Thành).
Đô ̣ dài tuyế n: 7000 m 17 Kiể u thảm thường bắ t gă ̣p: Trảng cỏ, cây bụi, rừng phục hồi sau nương rẫy, rừng thường xanh trên núi đá xen lẫn núi đất. + Tuyế n II: Tiểu khu 98 (xã Hiền Chung) - Đỉnh Pù Hu Nọi (xã Phú Sơn ). Độ dài tuyến: 4500 m Kiể u rừng thường gă ̣p: Trảng cơ, cây bụi, rừng phục hồi sau khai thác chọn, rừng thường xanh trên núi đá xen lẫn núi đấ t. + Tuyến III: Tiểu khu 51 ( Phú Sơn) – Tiểu khu 43 ( Trung Thành) Chiề u dài tuyế n: 6000 m Kiể u rừng thường gă ̣p: Rừng nứa, rừng luồng, trảng cây bụi, rừng phục hồi sau nương rẫy, rừng hỗn giao gỗ - tre nứa.
- Điều tra theo tuyến: Trên các tuyến tiến hành quan sát phát hiện, xác định loài, phát hiện các quần xã, ưu hợp, phức hợp, kiểu rừng. - Cách lập OTC: Trên mỗi tuyến điều tra lập 3 OTC điển hình. Chúng tôi chọn và lập OTC đại diện nhất, đặc trưng nhất về ngoại mạo với diện tích 1000m2 (40m x 25m). Sử dụng dây nilon có màu để định vị chu vi ô.
Đánh dấu các điểm trên dây, ứng với 10m một dấu. Ô được căng thành 4 ô nhỏ liên tiếp (kích thước đồng đều 10x 25m). - Thông tin thu thập trong OTC: Vị trí ô (xác định bằng GPS), địa hình, địa mạo, hướng phơi, trạng thái thảm thực vật, độ che phủ (ước lượng) và tất cả các cây cao, thực vật ngoại tầng, dạng sống. trong giới hạn dây nilon.
Trên mỗi OTC lập 5 ô dạng bản, diện tích mỗi ô dạng bản là 25m2 (5m x 5m) để điều tra cây tái sinh và cây bụi thảm tươi. Xử lý trong phòng thí nghiệm 18 Xác định tên khoa học, tính toán các thông số trong OTC và xác định các quần xã ưu thế (đó là nhóm loài đạt trên 50% độ quan trọng và số lượng loài dưới 10 cá thể). Phương pháp nghiên cứu hệ thực vật 2. Nghiên cứu thực địa Xác định địa điểm và tuyến thu mẫu: Để thu mẫu một cách đầy đủ và đại diện cho một khu nghiên cứu, chúng tôi không thể đi hết các điểm trong khu nghiên cứu, vì thế việc chọn tuyến và điểm thu mẫu là rất cần thiết.Tuyến đường đi phải xuyên qua các môi trường sống của khu nghiên cứu.