CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lược sử nghiên cứu động vật ở Việt Nam Các nghiên cứu về động vật ở Việt Nam có thể chia ra làm các giai đoạn: trước 1954, từ 1954 đến 1975 và từ 1975 đến nay. Giai đoạn trước 1954, các nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam hầu như chưa có gì cho đến cuối thế kỷ XIX khi các nhà khoa học nước ngoài đến khởi đầu công việc này. Giai đoạn từ 1954 đến1975 bắt đầu do các nhà khoa học Việt Nam đảm nhiệm và đã có những kết quả đáng kể.
Từ 1975 đến nay là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất các nhà khoa học Việt Nam cùng hợp tác với các nhà khoa học nước ngoài đã gặt hái được những thành tựu cơ bản và đã đóng góp nhiều phát hiện mới cho ngành khoa học về động vật. Dưới đây là điểm một số khái quát các tác giả và công trình nghiên cứu chính qua từng thời kỳ: Từ xa xưa cha ông ta đã biết khai thác và sử dụng động vật hoang dã để làm thực phẩm, thuốc chữa bệnh, đồ trang sức phục vụ cuộc sống. Việc này đã được đề cập đến trong các tài liệu từ thế kỷ XIII như “Nam dược thần hiệu”, của danh y Tuệ Tĩnh hay “Vân đài loại ngữ”, “Phủ biên tạp lục” của nhà bác học Lê Quý Đôn vào thế kỷ XVIII. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những tài liệu mang tính thống kê những loài thường được sử dụng chưa thực sự mang ý nghĩa nghiên cứu [15].1 Nghiên cứu về Thú Những nghiên cứu mang tính hệ thống về khu hệ động vật nói chung và thú nói riêng mới chỉ thực sự bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ XIX khi những nhà khoa học nước ngoài tiến hành ở Miền Nam.
Trong giai đoạn này, việc nghiên cứu về khu hệ thú Việt Nam chủ yếu do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện. Tài liệu đầu tiên có liên quan đến thú Việt Nam được công bố là “The Mission to Siam and Hue, the Capital of Cochichina in the years 1821-1822” (George Finlayson,1828). Đây tuy chưa phải là một công trình khoa học thực sự 4 nhưng cũng đã có những mô tả về thiên nhiên, cùng với những nhận xét ban đầu của tác giả (theo Lê Hiền Hào, 1973) [33]. Vào cuối thế kỷ XIX, sau một thời gian việc nghiên cứu bị gián đoạn, các nhà khoa học nước ngoài tiếp tục tiến hành thăm dò động vật giới của Việt Nam, bắt đầu từ Miền Nam với các nghiên cứu của Milne-Edwards (1867-1874); Jouan (1868); Morice (1875); Germain (1887); sau đó tiến dần ra Miền Bắc với các nghiên cứu của Brouchsmiche (1887).
Trong tác phẩm “Nhìn chung về Lịch sử Tự nhiên Bắc bộ” (Brouchsmiche E, 1887) tác giả đã có giới thiệu ngắn gọn về một số loài thú có giá trị kinh tế ở Bắc Bộ như: Khỉ, Tê tê, Hổ, Báo, Mèo rừng, Lợn lòi, Nai, Hoẵng, Hươu xạ… cùng với việc sử dụng chúng làm dược liệu như thế nào cũng như vùng phân bố của chúng. Trong thời gian từ 1894-1898 có những công bố về một số loài như: Công bố về loài Sơn dương gặp ở Bắc bộ (Heude, 1894); Công bố về một số loài thú ở Cao Bằng (A. Billet, 1896), thông báo về loài vượn mới Hylobates henrici tìm thấy ở Lai Châu (D. Những năm cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tình hình nghiên cứu về thú có tiến triển hơn.
Ngoài những nghiên cứu của các cá nhân, còn có những nghiên cứu quy mô của các đoàn Nghiên cứu về Lịch sử Tự nhiên của Đông Dương do Pavie M.A đứng đầu tiến hành, đoàn Khoa học thường trú Đông Dương do Boutan đứng đầu tiến hành ở Miền Bắc trong khoảng thời gian từ 1879-1898. Những tài liệu về thú do Đoàn Nghiên cứu về Lịch sử Tự nhiên của Đông Dương thu thập đã được De Poussargues công bố trong bộ sách “Recherches sur I’Histoire naturelle de I’Indochine Orientale”, Mission Pavie 1879-1898. Trong đó tác giả đã thống kê được 200 loài và phân loài thú (kể cả thú nuôi) phân bố ở Đông Dương. Riêng ở Việt Nam thống kê được 117 loài và phân loài.
Kết quả nghiên cứu về thú của Đoàn Khoa học thường trú Đông Dương được Ménégaux công bố trong tạp chí Bull. Ngoài ra, năm 1906 Boutan xuất bản riêng cuốn sách về thú trong công trình “Mười năm nghiên cứu động vật”, trong đó ông nêu khái quát chung về phân loại thú và một số dẫn liệu về hình thái, đặc điểm sinh học và phân bố địa lý của 10 loài thú [33]. 5 Từ năm 1900 trở đi còn hàng loạt những thông báo của nhiều tác giả khác công bố kết quả hoặc mô tả các dạng thú mới gặp lần đầu ở nước ta như của Baurae (1900); Heude (1901); Anonyme (1902); Bonhote (1903, 1907); Dauplay (1908); Krempt (1911); Trouessart (1911); Allen (1913); Kloss (1926, 1928); Thomas (1909, 1912, 1925-1929)… [33]. Bourret cho xuất bản cuốn “Fauna de I’Indochine” giới thiệu về khu hệ động vật có xương sống ở Đông Dương.
Trong đó thống kê được 262 loài và phân loài thuộc 11 họ thú có ở Đông Dương. Năm 1942, trong báo cáo “Les mammifères de la collection du laboratoire de zoologie L’Éccole supérieure des Sciences”, R. Bourret công bố 81 loài thú của Việt Nam trên cơ sở các mẫu vật có tại Phòng thí nghiệm Động vật của Viện Khoa học Sinh thái. Năm 1944, có thêm báo cáo “Mammifères resceemment entrés dans les collections du Laboratoire de Zoologie de L’Éccole supérieure des Sciences”.
Các tài liệu này được công bố trong Thông báo Công trình Khoa học số 1 và 3 của Trường Cao đẳng Khoa học Đông Dương [33]. Delacour thu thập khá nhiều tài liệu về khu hệ thú Việt Nam đồng thời thu thập được nhiều mẫu thú ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Vào những năm 1928-1929, có hoạt động của đoàn nghiên cứu Kelly- Roosevelt của Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Chicago thu thập mẫu ở Quảng Trị, Huế, Lào Cai, Lai Châu. Tất cả những tài liệu này sau đó được H.
Osgood tập hợp lại và đưa ra công bố chung về thú vào năm 1932 trong tác phẩm “Mammals of the Kelly- Roosevelt and Delacour Asiatis Expeditions”. Trong công trình này, tác giả đã ghi nhận được 251 loài và phân loài thú với 19 dạng mới. Bao gồm, 172 loài và phân loài có ở Việt Nam, kèm theo địa điểm sưu tầm của từng loài (H. Ngoài ra, trong thời kỳ này còn có các tài liệu về săn bắn của một số người không chuyên như: Bonifacy (1912); Montpensier (1912); Roussel (1913); Bordeneuve (1925); Cheminaud (1939); Cresson (1943); Denariaux (1949); Chochod (1950), [33].
6 Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp từ 1945-1954 mọi hoạt động nghiên cứu trực tiếp về thú ở nước ta đều bị ngưng trệ. Sau một thời gian gián đoạn do chiến tranh, Miền Bắc được giải phóng việc nghiên cứu ở Việt Nam được tiếp tục và hầu hết do những cán bộ khoa học Việt Nam thực hiện [33]. Từ năm 1956-1971, việc nghiên cứu động vật nói chung và thú nói riêng ở Miền Bắc chủ yếu do 3 cơ quan đảm nhiệm đó là: Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước và Tổng cục Lâm nghiệp. Ngoài ra, còn một số cơ quan khác trong lĩnh vực công tác có liên quan nhiều đến việc sưu tầm thú, mà chủ yếu là thú gặm nhấm dạng chuột như: Viện Vệ sinh Dịch tễ học, Viện Sốt rét và Ký sinh trùng, Viện Quân y.
Đặc biệt, từ cuối năm 1962-1966 còn có một tổ chức nghiên cứu phối hợp do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước chủ trì với sự tham gia của nhiều cơ quan khoa học nói trên. Trong thời gian này, việc nghiên cứu thú ở Miền Bắc nước ta được tiến hành rộng rãi ở khắp các tỉnh, tập trung chủ yếu vào các loài thú lớn có tầm quan trọng đối với sản xuất và đời sống. Phần lớn các kết quả này đã được công bố. Trong thời gian từ 1957-1974 đã có hơn 40 bài báo của Đào Văn Tiến công bố trên các tập san trong nước (Tập san Sinh vật-Địa học) và quốc tế (Mitt.
Anz; tập san Động vật học-Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô). Nghiên cứu về khu hệ thú ở các tỉnh có các công trình như: Lê Hiền Hào, Nguyễn Thạnh (1960) Lê Hiền Hào (1960, 1962, 1966, 1968, 1970, 1971); Võ Quý, Mai Đình Yên, Nguyễn Thạnh, Lê Hiền Hào, Trần Gia Huấn (1960); Võ Quý, Trần Gia Huấn (1961); Võ Quý (1963); Võ Quý, Đào Văn Tiến (1969). Ngoài ra, còn các nghiên cứu về sinh thái, sinh học các loài thú của Lê Hiền Hào (1964, 1970, 1972); Đặng Huy Huỳnh, Vũ Đình Tuân (1964); Đặng Huy Huỳnh, Cao Văn Sung (1965); Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh (1974) [15], [33]. Năm 1973, Lê Hiền Hào cho xuất bản cuốn “Thú Kinh tế Miền Bắc Việt Nam”, trong đó tác giả giới thiệu chi tiết về các mặt sinh thái, sinh học, tập tính, số lượng, phân bố và ý nghĩa kinh tế của 38 loài thú thường được nhân dân Miền Bắc 7 săn bắn để lấy thịt, da, lông, làm dược liệu…cũng như các loài quý hiếm cần bảo vệ [33].
Trong số các công trình nghiên cứu khu hệ thú địa phương phải kể đến cuốn “Động vật Kinh tế tỉnh Hòa Bình” xuất bản năm 1975 của nhóm cán bộ Phòng nghiên cứu động vật thuộc Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước do Đặng Huy Huỳnh chủ biên. Trong đó, có mô tả 26 loài thú kinh tế trong tổng số 74 loài thú của tỉnh Hòa Bình với các đặc điểm sinh học, giá trị kinh tế, mật độ, trữ lượng và phân bố của từng loài [12]. Ngoài các công trình nghiên cứu ở miền Bắc của các nhà khoa học trong nước năm 1969 còn có công trình “Premilinary Identification Manual for Mammals of South Vietnam” của Van Peenen. Trong đó tác giả công bố kết quả nghiên cứu trong những năm 1965-1969 với mô tả sơ bộ 217 loài và phân loài thú có ở Miền Nam Việt Nam [103].
Giai đoạn này cũng có một số công trình xem xét lại về phân loại thú Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam như: Hill (1963), Mohr (1960-1965), Groves (1972), Marshall (1977), Lekagul và Nelly (1977),…(Theo Đào Văn Tiến, 1985) [15]. Sau năm 1975 đất nước thống nhất, việc nghiên cứu về khu hệ động vật ở các địa phương vẫn được tiếp tục. Năm 1981, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước tổng kết công tác điều tra cơ bản khu hệ tài nguyên sinh vật ở Miền Bắc giai đoạn 1955-1975 và xuất bản cuốn “Kết quả Điều tra cơ bản động vật ở Miền Bắc Việt Nam”. Trong đó thống kê được 109 loài và phân loài thú (Đặng Huy Huỳnh, Phạm Trọng Ảnh, Cao Văn Sung.