ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á có diện tích khoảng 330.541km2, là nước có tính đa dạng sinh học rất cao. Theo thống kê có khoảng 80% số loài côn trùng ăn cây xanh và bản thân chúng lại là thức ăn của nhiều loài động vật khác như chim, cá, nhện. Ngay từ khi biết trồng trọt và chăn nuôi, con người đã tiếp xúc với côn trùng. Côn trùng là nhóm động vật có rất nhiều bí ẩn, phong phú đa dạng nên nó trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học cũng như những người yêu thích thiên nhiên.
Trong thế giới động vật, Côn trùng là lớp phong phú nhất, với hơn 1 triệu loài đã được mô tả - chiếm hơn một nửa tổng số tất cả các loài sinh vật sống mà con người biết đến, với ước lượng về số loài chưa được mô tả lên tới 30 triệu, và do đó có thể đại diện cho hơn 90% các dạng sống khác nhau trên hành tinh. Trong lớp côn trùng tôi đặc biệt quan tâm đến các loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera). Đây là bộ côn trùng có mức độ đa dạng cao với số lượng loài lớn nhất được biết đến trong lớp côn trùng (Insecta). Là bộ có vai trò rất to lớn trong hệ sinh thái, chúng là mắt xích trong chuỗi thức ăn và tham gia vào quá trinhg phân giải chất hữu cơ, trả lại môi trường nguồn dinh dưỡng cho các sinh vật khác sử dụng làm tơi xốp đất.Một số loài côn trùng cánh cứng là thiên địch của nhiều loài sâu hại.
Nhờ có các loài thiên địch này mà hạn chế được tác hại do các loài sâu hại gây ra cho con người cũng như môi trường sống nói chung. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó còn có những mặt tiêu cực do chúng gây ra như: Chúng phá hoại hang ngàn ha rừng hàng năm gây thiệt hại về kinh tế và môi trường. Từ thực tế đó, trong chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn cần quan tâm đến bảo tồn đa dạng sinh học côn trùng Cánh cứng. Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Hoạt được chuyển đổi từ Ban Quản lý Rừng phòng hộ Quế Phong theo Quyết định số 1109/QĐ-UBND, ngày 02/04/2013 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Nghệ An, với mục tiêu nhằm bảo tồn các hệ sinh thái và các loài động thực vật đặc trưng cho khu vực, nằm ở phía Tây 2 Bắc của tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh 180km.
Diện tích quản lý của Khu BTTN Pù Hoạt là 85.761,43ha, trong đó rừng đặc dụng 34.589,89 ha, rừng phòng hộ 51.171,54, là một trong 3 khu rừng đặc dụng nằm trong “Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An” đã được UNESCO công nhận ngày 20-9- 2007,có giá trị đa dạng sinh học cao chứa đựng nhiều hệ sinh thái, cảnh quan, đa dạng loài và đa dạng nguồn gen cao. Trong những năm gần đây, một số hoạt động điều tra, nghiên cứu tính đa dạng sinh học ở Khu BTTN Pù Hoạt đã được triển khai, kết quả một số loài động vật được phát hiện mới ở đây như: Ếch cây quang (Gracixalus quangi); Loài trà hoa vàng quế phong (Camellia quephongensis) và bổ sung 1 loài Cá cóc sần lào (Tylototrion notialis) cho khu hệ động vật Việt Nam. Tuy nhiên trải qua thời gian dài trước và sau khi thành lập Khu BTTN Pù Hoạt, công tác điều tra nghiên cứu khoa học vẫn chưa được sự quan tâm thích đáng, chưa có công trình nghiên cứu chi tiết cụ thể cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng nói riêng, và xây dựng cơ sở dữ liệu về động, thực vật nói chung tại đơn vị. Các chương trình nghiên cứu khoa học tại Khu BTTN Pù Hoạt từ khi thành lập tới nay mới chỉ thực hiện ở mức độ chuyên đề nhỏ, chưa có sự đầu tư chuyên sâu, cụ thể: Nghiên cứu đa dạng động, thực vật tại Khu BTTN Pù Hoạt tiến hành năm 2013 với mức độ chuyên sâu chưa cao mới mang tính bước đầu thống kê; năm 2014 tiến hành chuyên đề nghiên cứu phân bố và đặc tính sinh thái của loài Sa mu dầu tại Khu BTTTN Pù Hoạt; năm 2015 tiến hành chuyên đề nghiên cứu phân bố loài Lùng trong rừng đặc dụng BQL KBTTN Pù Hoạt; năm 2016, được sự quan tâm của UBND tỉnh và các cấp nghành Khu BTNT Pù Hoạt đã được sự đầu tư hỗ trợ thực hiện đề tài nghiên cứu chi tiết về Ngành thực vật hạt trần.
Đến thời điểm hiện nay chưa có một nghiên cứu nào cụ thể về côn trùng bộ Cánh cứng, các biện pháp quản lý và sử dụng trong khu vực vì vậy việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất biện pháp quản lý côn trùng bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt” là cần thiết. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng trên thế giới. Côn trùng trở thành một ngành khoa học bắt đàu từ Aristoteles (384 – 322 tr. Lần đầu tiên ông đã mô tả và sắp xếp thế giới động vật thành 2 nhóm : nhóm có máu và nhóm không có máu.
Ở nhóm thứ hai cơ thể phân đốt, chia thành đầu, ngực bụng.Thuộc nhóm này có côn trùng và ông ghép thêm cả đa túc, nhện, một phần giáp xác thấp và một số giun đốt. Một thời gian sau đó Cajus Plinius (23 - 79) đã công bố các công trình và đã có sự phỏng đoán về sự hô hấp của côn trùng và rằng chúng có máu. Những công trình của Aldrovandi (1522 - 1605), giáo sư ở Gymnasium thuộc Bologna bắt đầu được công bố, trong đó gồm có cả côn trùng. Trong đơn vị thống nhất có tính hệ thống thuật ngữ Insecta (côn trùng) bao gồm cả bọ cạp, nhện.
Trong tác phẩm của ông, một khối lượng lớn những quan sát về cách sinh sống và hình dạng các nhóm dộng vật này được đánh giá đặc biệt có giá trị. Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới được thành lập ở nước Anh năm 1745.Hội côn trùng Nga được thành lập năm 1859.Nhà côn trùng Nga Keppen (1882 - 1883) đã cuất bản cuốn sách gồm ba tập về côn trùng lâm nghiệp trong đó đề cập nhiều đến con trùng thuộc bộ Cánh cứng.Sprengel (1850 - 1816) năm 1793, ông đã mô tả mối quan hệ giữa cấu tạo của hoa và quá trình thụ phấn nhờ côn trùng, lần đầu tiên vai trò thụ phấn cho hoa được giải thích.Lamarck (1744 - 1829) cũng đã có nhiều đóng góp trong phân loại côn trùng (http://vi. Về phân loại, năm 1910 – 1940 Volka và Sonkling đã xuất bản một tài liệu về côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) gồm 240000 loài in trong 31 tập. Năm 1965, Viện hàn lâm khoa học Nga đã xuất bản 11 tập phân loại côn trùng phần thuộc Châu Âu, trong đó có tập thứ 5 chuyên về phân loại bộ Cánh cứng (Coleoptera) trong tập này đã xây dựng bản tra.N Boronxop đã viết giáo trình “Côn trùng rừng” trong tác phẩm này đã đề cập đến nhiều loài côn trùng bộ Cánh cứng.
Năm 1966 Bey – Bienko đã phát hiện và mô tả được 300000 loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng. Đó là điểm qua một số mốc lịch sử nổi bật sự phát triển nghiên cứu côn trùng của thế giới.Vì côn trùng là một lớp phong phú nhất trong giới động vật. Trên thế giới đã phát hiện hơn 300.000 loài thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera), chúng chiếm tới 40% các loài côn trùng và khoảng 30% các loài động vật đã biết. Ngày nay nghiên cứu về côn trùng nói chung và côn trùng rừng nói riêng đã có những bước tiến vượt bậc.
Hiện tại trên thế giới có hơn 135 tạp chí chuyên khảo về côn trùng (theo Bùi Công Hiển, Côn trùng học ứng dụng,2003) với đội ngũ đông đảo các nhà khoa học, không chỉ riêng các nhà côn trùng học, mà cả các nhà toán học, vật lí học, hóa học, công nghệ. cũng đi sâu vào nghiên cứu các phía cạnh khác nhau của côn trùng. Với sự phát triển mạnh mẽ và rộng lớn trong nghiên cứu côn trùng hiện nay, xu thế nghiên cứu về côn trùng trên thế giới đã chuyển theo những hướng chuyên môn hẹp từng bộ, giống và thậm chí từng loài. Những nghiên cứu liên tục được thực hiện ở các tạp chí côn trùng, báo cáo hội nghị côn trùng từng nước, từng khu vực trên thế giới, các trang web.Những kết quả nghiên cứu của họ đã thực sự góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia và toàn nhân loại.2 Tình hình nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng ở Việt Nam Các nghiên cứu về côn trùng nói chũng cũng như côn trùng thuộc bộ Cánh cứng nói riêng trong nước nhìn chung không nhiều, đặc biệt là côn trùng lâm nghiệp.
Một số nghiên cứu đã được thực hiện chủ yếu tập chung vào nhóm côn trùng có hại, biện pháp phòng trừ và chỉ vài nghiên cứu về công trùng có ích. Những nói chung những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở mức độ báo cáo, tài liệu giảng dạy và trong phạm vi hẹp đối với một số loài đại diện. Trên thực 5 tế, ở nước ta chưa có tài liệu đầy đủ về côn trùng để phục vụ công tác nghiên cứu, điều tra và ứng dụng. Gần đây do yêu cầu thực tiễn sản xuất và sinh thái môi trường, nghiên cứu côn trùng được chú ý hơn, các nghiên cứu cơ bản về tài nguyên côn trùng đã triển khai và thu được những kết quả bước đầu.
Cụ thể các nghiên cứu cơ bản về tài nguyên côn trùng đáng chú ý như : - Côn trùng Việt Nam được tiến hành nghiên cứu từ những năm 1879 – 1895 của các tác giã người pháp Missi Pavie, năm 1921 của Vitalis de Salvaza. Sau năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc nước ta, Chính phủ đã chú trọng công tác điều tra cơ bản côn trùng như kết quả điều tra cơ bản côn trùng miền Bắc Việt Nam 1967 – 1968 do Bộ Nông Nghiệp chủ trù. “Kết quả điều tra động vật miền Bắc Việt Nam” 1981 do Giáo sư Đào Văn Tiến chủ trì trong đó có phần côn trùng. - Năm 1973, Đặng Vũ Cẩn có cuốn “Sau hại rừng và các phòng trừ” giới thiệu một số loài sâu Bọ Hung hại lá Bạch đàn là : Bọ hung nâu lớn (Holotrichia sauteri Mausrser), Bọ hung nâu nhỏ (Maladera sp.), sâu trưởng thành của nhóm nà thường sống ở trên tất cả các giống bạch đàn.
Qua điều tra ở trại Long Phú Hải, Đông Triều,Quảng Ninh cho thấy Bọ hung nâu nhỏ (Maladera sp.) gây hại bạnh đàn trắng nhiền hơn bạch đàn đỏ.