Chương 1: Giới thiệu. Chương này nêu vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu 9 Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Cụ thể bao gồm các nội dung xem xét các tài liệu về đa dạng hóa, đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả tài chính công ty. Chương này cũng xem xét các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả tài chính công ty.
Chương 3: Phương pháp, quy trình nghiên cứu và dữ liệu với nội dung bao gồm dữ liệu và phương pháp nghiên cứu liên quan đến lựa chọn mẫu nghiên cứu, quy trình thực hiện và các kiểm tra kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ giải thích các kết quả nghiên cứu chính của nghiên cứu, kiểm định dấu các biến và bình luận dựa trên các kỳ vọng dấu các biến trong chương 3. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách sẽ tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, đưa ra một vài hàm ý chính sách, những hạn chế và đề xuất cho các hướng nghiên cứu tương lai.
10 LÝ THUYẾT VỀ ĐA DẠNG, ĐA DẠNG THU NHẬP VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP Trong chương này tác giả tập trung vào các khái niệm và cơ sở lý thuyết về đa dạng hóa doanh nghiệp, đi sâu vào đa dạng hóa thu nhập cũng như mối quan hệ giữa nó đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Ngoài ra, tác giả cũng tổng lược các nghiên cứu thực nghiệm các mối quan hệ này, làm cơ sở trong xây dựng mô hình, chọn lựa các biến và phương pháp nghiên cứu phù hợp. CÁC KHÁI NIỆM Đa dạng hóa Đa dạng hóa doanh nghiệp (corporate deversification) là một khái niệm có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Dựa trên hình thức kinh doanh của doanh nghiệp, Grant và Jordan (2015) cho rằng đa dạng hóa là sự mở rộng hoạt động kinh doanh chính của mình từ hoạt động kinh doanh cũ sang dòng sản phẩm khác hoặc lĩnh vực hoạt động khác.
Đồng quan điểm này Aaker (1980), Andrews (1980), Berry (1975), Chandler (1962), Gluck (1985) cũng cho rằng đa dạng hóa là một phương tiện mà công ty mở rộng từ kinh doanh cốt lõi sang các thị trường sản phẩm khác. Xét theo quan điểm này thì đa dạng hóa có thể chia thành 2 nhóm: Đa dạng hóa có liên quan (related diversification) và đa dạng hóa không liên quan (unrelated diversification). Đa dạng hóa có thể giúp cải thiện khả năng nợ, giảm nguy cơ phá sản bằng cách tham gia vào sản phẩm hay thị trường mới (Higgins và Schall, 1975), Lewllen,1971). Đa dạng hóa là một chiến lược mà nhiều doanh nghiệp sử dụng để làm tăng hiệu quả hoạt động.
Việc đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực nhằm giảm bớt, chia sẻ rủi ro đối với sự nghiệp kinh doanh của doanh nghiệp nhất là khi mà lĩnh vực kinh doanh chính của doanh nghiệp có thể gặp phải sự cạnh tranh quá lớn, và sử dụng tốt nhất nguồn vốn nhàn rỗi và tìm kiếm lợi nhuận từ những lĩnh vực khác. Đa dạng hóa tùy theo cách phân chia và mục tiêu có thể chia thành nhiều kiểu đa dạng hóa khác nhau như: đa dạng hóa kinh doanh, đa dạng hóa thu nhập, đa 11 dạng hóa đầu tư, đa dạng hóa hình thức sở hữu, đa dạng hóa thu nhập. Trong bài nghiên cứu này tác giả tập trung vào đa dạng hóa thu nhập. Đa dạng hóa thu nhập Đa dạng hóa thu nhập là sự gia tăng các nguồn thu nhập hoặc gia tăng tỷ trọng giữa các nguồn thu nhập khác nhau.
Ellis (2000) cho rằng trong bối cảnh môi trường không chắc chắn, người ta nên tránh phụ thuộc vào chỉ một hoặc hai nguồn thu nhập trong một thời gian dài. Đa dạng hóa thu nhập là một phương tiện ngày càng quan trọng trong việc phòng chống lại các rủi ro tiềm ẩn. Nghiên cứu ở mảng đa dạng hóa thu nhập hiện nay rất nhiều nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu đa dạng hóa thu nhập của các ngân hàng thương mại, điển hình như các nghiên cứu của DeYoung và Roland (2001), Acharya và cộng sự (2006) cho thấy các ngân hàng tăng thu nhập ngoài lãi làm tăng đòn bẩy và gia tăng rủi ro. Goddard và cộng sự (2008) hay Berger và cộng sự (2010) cũng cho các kết quả nghiên cứu tương tự khi cho rằng đa dạng hóa thu nhập dẫn đến đánh đổi theo hướng bất lợi lên doanh thu và lợi nhuận của các NHTM.
Các nghiên cứu đa dạng hóa thu nhập tại Việt Nam cho chiều hướng ngược lại, nghĩa là gia tăng nguồn thu nhập ngoài lãi góp phần gia tăng hiệu quả, Đoàn Anh Tuấn và cộng sự (2015), Võ Xuân Vinh (2015). Như vậy cùng nghiên cứu về đa dạng hóa thu nhập nhưng kết quả nghiên cứu trên các hộ gia đình lại ủng hộ đa dạng hóa trong khi các nghiên cứu trên các ngân hàng lại cho thấy xu hướng bất lợi khi gia tăng nguồn thu ngoài lãi, vì nó có thể tăng lợi nhuận nhưng cũng làm gia tăng rủi ro. Để đo lường đa dạng hóa thu nhập, một số nghiên cứu sử dụng chỉ số HHI (Herfindahl-Hirshman) để đo mức độ tập trung thu nhập của một ngân hàng (Mercieca và cộng sự, 2007; Stiroh, 2004), Sanya và Wolf (2011), Gurbuz và cộng sự (2013), Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015), theo đó chỉ số HHI được tính theo công thức 2.1) Trong đó: NON là thu nhập ngoài lãi, NET là thu nhập từ lãi và NETOP là thu nhập ròng, NETOP = NON + NET. Chỉ số HHI có giá trị dao động từ 0,5 đến 1.
12 Để đo mức độ đa dạng hóa trong cơ cấu thu nhập các nhà nghiên cứu còn sử dụng chỉ số DINC với cách tính theo công thức 2.2 như sau: DINC = 1 - HHI inc (2.2) Chỉ số DINC có giá trị từ 0 đến 0,5. Nếu DINC = 0, tức là cơ cấu thu nhập hoàn toàn tập trung vào một nguồn thu nhập duy nhất. Nếu DINC = 0,5 tức là ngân hàng đang đa dạng hóa thu nhập ở mức tối đa, tỷ trọng thu nhập ngoài lãi bằng tỷ trọng thu nhập lãi. Phương pháp này được sử dụng trong các nghiên cứu của Stiroh & Rumble (2006), Chiorazzo & cộng sự (2008) và Delpachitra & Lester (2013).
Trong bài nghiên cứu này tác giả cũng sử dụng chỉ số HHI và DINC theo công thức 2.2 nhưng sẽ được hiệu chỉnh lại như sau cho phù hợp với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bình thường, bởi vì các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác thì nguồn thu nhập có được cũng từ hai hoạt động chính đó là thu nhập từ SXKD chính, và thu nhập khác: HHI = (NON/NETOP) 2 + (NET/NETOP) 2 (2.3) Trong đó: NON là thu nhập từ hoạt động SXKD chính, NET là thu nhập từ các hoạt động khác và NETOP là tổng thu nhập ròng (NETOP = NON + NET). Sau đó để đo mức độ đa dạng hóa trong cơ cấu thu nhập tác giả cũng sử dụng chỉ số DINC với cách tính theo công thức 2.4 như sau: DINC = 1 - HHI inc (2.4) Theo điều thông tư 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 thì thu nhập khác là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế mà khoản thu nhập này không thuộc các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh ghi trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Thu nhập khác bao gồm các khoản thu nhập sau: Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán; Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; Thu nhập từ chuyển nhượng dự án đầu tư; chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư; chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; Thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bao gồm cả tiền thu về bản quyền dưới mọi hình thức trả cho quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập về quyền sở hữu trí tuệ; thu nhập từ chuyển giao công nghệ; Thu nhập từ cho thuê 13 tài sản dưới mọi hình thức; Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, thanh lý tài sản (trừ bất động sản), các loại giấy tờ có giá khác; Thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn bao gồm cả tiền lãi trả chậm, lãi trả góp, phí bảo lãnh tín dụng và các khoản phí khác trong hợp đồng cho vay vốn; Thu nhập từ hoạt động bán ngoại tệ; Thu nhập từ chênh lệch tỷ giá; Khoản nợ khó đòi đã xóa nay đòi được; Khoản nợ phải trả không xác định được chủ nợ; Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót phát hiện ra; khoản thu về tiền phạt, tiền bồi thường do bên đối tác vi phạm hợp đồng hoặc các khoản thưởng do thực hiện tốt cam kết theo hợp đồng phát sinh cao hơn khoản chi tiền phạt, tiền bồi thường do vi phạm hợp đồng; Chênh lệch do đánh giá lại tài sản; Quà biếu, quà tặng bằng tiền, bằng hiện vật; thu nhập nhận được bằng tiền, bằng hiện vật từ các nguồn tài trợ; thu nhập nhận được từ các khoản hỗ trợ tiếp thị, hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán, thưởng khuyến mại và các khoản hỗ trợ khác; Thu nhập về tiêu thụ phế liệu, phế phẩm;.Tổng số gồm có 23 các khoản thu nhập được ghi nhận vào thu nhập khác theo quy định hiện hành Hiệu quả hoạt động và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Samerelson và Nordhasu (2009) cho rằng “Hiệu quả là một mối quan tâm trung tâm của kinh tế học. Hiệu quả nghĩa là không có lãng phí”.
Theo quan điểm này thì hiệu quả sản xuất diễn ra khi tăng sản lượng một loại hàng hóa này mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hóa khác. Nó đề cập khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội. Manfred Kuhn (2003), tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh. Quan điểm này được nhiều nhà kinh tế và quản trị áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các quá trình kinh tế.
Một số định nghĩa có liên quan cần phân biệt bao gồm: Hiệu quả (Efficiency); Năng suất (Productivity); Có hiệu quả (Effectiveness); Hiệu suất (Performance). Ngoại trừ năng suất (Productivity) thì các khái niệm về hiệu quả (efficiency), hiệu suất (Performance) và có hiệu quả (Effectiveness) thường được dùng chung là “Hiệu quả”, tùy vào bối cảnh và giới hạn mà có thể hiểu theo các nội hàm khác nhau. Trong nghiên cứu này, hiệu quả được hiểu dựa trên góc độ hoạt động của doanh nghiệp, hiệu quả của bất kỳ 14 một hoạt động kinh doanh nào cũng đều thể hiện mối quan hệ giữa “kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra”. Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh = (2.