Pháp luật Cuba & Campuchia về cưỡng bức trẻ em ăn xin - Đề xuất cho Việt Nam

Phân tích quy định pháp luật Cuba, Campuchia về cưỡng bức trẻ em ăn xin. Bài học kinh nghiệm và các đề xuất hoàn thiện pháp luật cho Việt Nam.

Chuyên ngành

Luật Quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Công trình dự thi nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường

2022-2023

96
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và bản chất của cưỡng bức trẻ em ăn xin trong luật quốc tế

Cưỡng bức trẻ em ăn xin là một hình thức lao động cưỡng bức nghiêm trọng đối với trẻ em dưới 16 tuổi. Hành vi này được định nghĩa là việc tổ chức, ép buộc hoặc lôi kéo trẻ em phải đi ăn xin nhằm kiếm lợi nhuận hoặc thỏa mãn các mục đích khác của những người chịu trách nhiệm. Theo các chuẩn mực luật quốc tế, ăn xin được coi là một hình thức lao động khi nó được thực hiện dưới sự ép buộc hoặc cưỡng chế. Vấn nạn này gây ra những hậu quả nặng nề về thể chất, tâm lý và xã hội đối với trẻ em. Hiện nay, cưỡng bức lao động trẻ em được nhiều quốc gia công nhận là vi phạm nghiêm trọng quyền trẻ em cơ bản và được quy định trong các công ước quốc tế quan trọng.

1.1. Định nghĩa cưỡng bức trẻ em đi ăn xin

Hành vi cưỡng bức trẻ em ăn xin là việc sử dụng sức mạnh, đe dọa, lừa dối hoặc các hình thức khác để ép trẻ em phải đi ăn xin. Đối tượng thực hiện hành vi này thường là cha mẹ, người giám hộ hoặc các đối tượng có quyền lực đối với trẻ em. Hành vi này tiêu biểu của cưỡng bức lao động và gây tổn hại toàn diện cho phát triển của trẻ em.

1.2. Đặc điểm của lao động cưỡng bức đối với trẻ em

Lao động cưỡng bức trẻ em có các đặc điểm: không tự nguyện, không được đồng ý từ trẻ em, gây hại sức khỏe và phát triển, bị khai thác kinh tế. Trẻ em bị cưỡng bức ăn xin phải chịu đựng điều kiện sống thiếu thốn, thiếu giáo dục, phơi nhiễm với các nguy hiểm xã hội.

II. Quy định pháp luật của Cuba về cưỡng bức trẻ em ăn xin

Cuba được xem là một quốc gia có hệ thống pháp luật bảo vệ trẻ em khá hoàn thiện. Luật Trẻ em và Thanh niên của Cuba có các quy định rất nghiêm khắc đối với những người cưỡng bức trẻ em thực hiện các hành vi lao động. Hệ thống pháp luật Cuba áp dụng các hình phạt tù dài hạn đối với những trường hợp cưỡng bức trẻ em ăn xin. Chính phủ Cuba cũng thực hiện các chương trình bảo vệ quyền trẻ em bằng cách đảm bảo tiếp cận giáo dục và y tế. Các biện pháp thực thi luật bảo vệ trẻ em ở Cuba bao gồm kiểm tra thường xuyên, xây dựng lòng tin cộng đồng, và hỗ trợ xã hội cho các gia đình có nguy cơ.

2.1. Khung pháp luật hình sự của Cuba

Pháp luật Cuba quy định các tội danh cụ thể liên quan đến cưỡng bức lao động trẻ em, với mức hình phạt từ 5-15 năm tù. Quy định luật Cuba không chỉ xử lý người thực hiện hành vi mà còn xử lý các đối tượng tổ chức, chỉ đạo hoặc hưởng lợi từ cưỡng bức trẻ em.

2.2. Các biện pháp bảo vệ quyền trẻ em ở Cuba

Cuba có hệ thống bảo vệ quyền trẻ em toàn diện với các tổ chức chuyên trách, đội ngũ xã hội viên, và cơ sở pháp luật vững chắc. Các biện pháp này bao gồm nhận dạng sớm, can thiệp kịp thời, và tái hòa nhập xã hội cho trẻ em bị cưỡng bức.

III. Quy định pháp luật của Campuchia về cưỡng bức trẻ em ăn xin

Campuchia là một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nề bởi vấn nạn cưỡng bức trẻ em ăn xin. Tuy nhiên, pháp luật Campuchia đã có những bước tiến trong việc bảo vệ quyền trẻ em. Luật Bảo vệ Trẻ em của Campuchia (2007) và các sửa đổi sau này quy định rõ ràng về cưỡng bức lao động trẻ em. Pháp luật Campuchia áp dụng hình phạt tù từ 3-10 năm và tiền phạt đối với hành vi cưỡng bức trẻ em đi ăn xin. Chính phủ Campuchia cũng hợp tác với các tổ chức quốc tế để bảo vệ trẻ em khỏi lao động cưỡng bức. Các chương trình can thiệp bao gồm dạy nghề, hỗ trợ tài chính cho gia đình, và nâng cao nhận thức cộng đồng.

3.1. Thực trạng cưỡng bức trẻ em ở Campuchia

Số lượng trẻ em bị cưỡng bức ăn xin ở Campuchia vẫn còn cao do tình hình kinh tế khó khăn. Những nguyên nhân chính bao gồm nghèo đói, thiếu giáo dục, tình trạng gia đình bất ổn. Vấn nạn này còn được bộc lộ trong các thành phố lớn như Phnom Penh, Siem Reap.

3.2. Cơ chế thực thi luật Campuchia về cưỡng bức trẻ em

Pháp luật Campuchia thông qua việc thành lập lực lượng cảnh sát chuyên trách, các tòa án chuyên xử lý vụ việc liên quan đến trẻ em, và cơ chế phối hợp giữa các bộ ngành. Cơ chế này nhằm đảm bảo hiệu quả trong việc phát hiện, xử lý và bảo vệ trẻ em bị cưỡng bức.

IV. Pháp luật Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện trong bảo vệ trẻ em khỏi cưỡng bức ăn xin

Pháp luật Việt Nam hiện nay có những quy định về bảo vệ trẻ em thông qua Luật Trẻ em (2016) và Nghị định 130/2021/NĐ-CP. Tuy nhiên, những quy định này chủ yếu áp dụng xử phạt hành chính với mức phạt tương đối nhẹ. Hành vi cưỡng bức trẻ em ăn xin tại Việt Nam vẫn chưa được quy định rõ ràng trong Luật Hình sự. Để hoàn thiện pháp luật Việt Nam, cần phải quy định cụ thể hành vi cưỡng bức lao động trẻ em vào Bộ luật Hình sự với mức hình phạt phù hợp. Đồng thời, cần tăng cường cơ chế giám sát, phòng chống, và có các chương trình hỗ trợ trẻ em bị cưỡng bức.

4.1. Những hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện tại

Pháp luật Việt Nam chưa có quy định hình sự cụ thể cho hành vi cưỡng bức trẻ em ăn xin, chỉ áp dụng xử phạt hành chính. Các quy định hiện hành chưa đủ chi tiết để hướng dẫn thực thi. Cơ chế phát hiện và xử lý vẫn còn yếu kém, khiến nhiều trường hợp cưỡng bức trẻ em không bị phát hiện kịp thời.

4.2. Đề xuất hoàn thiện pháp luật bảo vệ trẻ em Việt Nam

Cần bổ sung quy định về cưỡng bức lao động trẻ em vào Bộ luật Hình sự với mức hình phạt tù từ 3-10 năm. Tăng cường các chương trình bảo vệ quyền trẻ em, hỗ trợ tài chính cho gia đình nghèo, và nâng cao nhận thức cộng đồng về hành vi cưỡng bức trẻ em.

18/12/2025
Quy định pháp luật của cuba và campuchia về hành vi cưỡng bức trẻ em đi ăn xin kinh nghiệm và đề xuất cho việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VÀ QUAN ĐIỂM LUẬT QUỐC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ QUYỀN TRẺ EM VÀ CƯỠNG BỨC LAO ĐỘNG TRẺ EM.1 Quyền trẻ em trong luật quốc tế 1.1 Khái niệm quyền trẻ em Từ điều khoản đầu tiên, Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 - United States Convention on the Rights of the Child (UNCRC) đã nêu định nghĩa về “trẻ em” một cách trực tiếp và rõ ràng như sau: “Điều 1. Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Đây được xem là quy định mở. Bởi UNCRC vẫn cho phép trường hợp các quốc gia áp dụng pháp luật nước mình dù quy định độ tuổi của trẻ em là dưới 18 tuổi.

Sở dĩ như vậy là do hiện nay UNCRC đã được phê chuẩn bởi tất cả các quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc (trừ Hoa Kỳ) và mỗi nước thành viên sẽ có những chính sách khác nhau phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước cho nên việc xây dựng bất kỳ một tiêu chuẩn cố định nào về độ tuổi của trẻ em mang tính bắt buộc chung đối với mọi quốc gia là không thể. Việt Nam cũng là một trong các nước quy định độ tuổi trưởng thành của trẻ em sớm hơn so với luật quốc tế: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” (Điều 1 Luật trẻ em 2016). Như vậy, Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 công nhận tất cả đối tượng dưới 18 tuổi đều là trẻ em. Nghĩa là, người dưới độ tuổi 18, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc, sắc tộc hay xã hội, tài sản, khuyết tật, thành phần xuất thân hay địa vị khác của trẻ em hoặc cha mẹ hay người giám hộ hợp pháp của trẻ em đó1, đều được hưởng các quyền mà Công ước này quy định.

Hiện nay, các văn bản pháp luật quốc tế về quyền trẻ em, cụ thể là Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 không có quy định rõ ràng về định nghĩa 1 UN General Assembly (1989), Convention on the Rights of the Child, United Nations, Treaty Series, vol. 3, available at: https://www.org/docid/3ae6b38f0.html [accessed 19 February 2023] 14 quyền trẻ em. Tuy nhiên, theo khái niệm khoa học pháp lý, “quyền” dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế. Bên cạnh đó, dựa vào khái niệm về quyền con người của Văn phòng Cao ủy Liên hiệp quốc cùng với những quy định chi tiết về từng quyền của trẻ em trong Công ước, có thể hiểu quyền trẻ em là quyền con người được cụ thể hóa cho phù hợp với nhu cầu, đặc trưng phát triển và tính chất cuộc sống trẻ em.

Trong đó bao gồm các đặc quyền tự nhiên của trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng, được bảo vệ nhằm đảm bảo về sự sống còn và phát triển toàn diện của trẻ em.2 Những quyền cơ bản của trẻ em trong luật quốc tế Nhóm Quyền được sống Khoản 1 Điều 6 Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 quy định về quyền được sống của trẻ em. Đây cũng là một trong những quyền cơ bản của con người, bị tước đoạt quyền này cũng đồng nghĩa là các quyền sau đó trở nên vô nghĩa. Chính vì vậy, một số quyền đặc trưng đã được ra đời để cụ thể hoá nhóm quyền này. Đầu tiên, Điều 7 của Công ước đã quy định về quyền được sinh ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch ngay từ khi chào đời.

Nguyên tắc 3 trong Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959 cũng ghi nhận: “Trẻ em sinh ra có quyền được khai sinh”. Điều này thể hiện dưới góc nhìn quốc tế, quyền được khai sinh, quyền có họ tên và quốc tịch là một trong những quyền nhân thân quan trọng không thể thiếu của trẻ em. Không chỉ có quyền được đăng ký khai sinh, có họ tên và quốc tịch, mọi trẻ em còn có quyền được biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc theo Điều 7 Công ước này. Điều 8 của Công ước ghi nhận cho trẻ em quyền được giữ gìn bản sắc của mình, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tôn trọng quyền của trẻ em được kế thừa, phát huy bản sắc dân tộc của mình, kể cả quốc tịch, họ tên và các quan hệ gia đình được pháp luật thừa nhận mà không có sự can thiệp phi pháp.

Trường hợp trẻ bị tước đoạt bản sắc một cách không hợp pháp thì Nhà nước phải có trách nhiệm giúp đỡ và bảo vệ thích hợp nhằm nhanh chóng khôi phục lại bản sắc cho các em đó. Ngoài ra, quyền sống chung với cha mẹ và không bị cách ly cha mẹ trái với ý muốn của họ, trừ trường hợp việc cách ly như vậy theo quy định của pháp luật là cần thiết cho lợi ích tốt nhất của trẻ em cũng được đề cập ở Điều 9, đó là trường hợp trẻ 15 em bị cha mẹ lạm dụng hoặc làm ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần và đạo đức của trẻ. Các quốc gia phải tôn trọng quyền của trẻ em bị sống cách ly với cha mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ, để duy trì những quan hệ riêng tư và được tiếp xúc trực tiếp với cả cha và mẹ một cách đều đặn, trừ khi việc này trái với lợi ích tốt nhất của trẻ em. Nhóm Quyền được phát triển Bên cạnh nhóm quyền được sống là nhóm quyền được cho rằng quan trọng nhất, quyền được phát triển của trẻ em cũng nằm một trong bốn nhóm quyền trẻ em cơ bản trong pháp luật quốc tế.

Nhóm quyền này bao gồm quyền được hưởng những điều kiện tốt nhất để phát triển toàn diện: quyền có cuộc sống đầy đủ, quyền được học tập, nghỉ ngơi, giải trí, được bảo vệ, chống lại sự bóc lột và lạm dụng cũng như quyền được tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Theo Điều 18 Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989, để đảm bảo trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức, cha mẹ, người giám hộ sẽ là những người có trách nhiệm hàng đầu cùng với sự hỗ trợ của nhà nước bằ ng cách đưa ra ̣ vu ̣ hỗ trơ ̣ trẻ em và giúp đỡ cha me ̣ nuôi con. Bên cạnh đó, thông qua những dich Điều 27, mọi trẻ em có quyền có mức sống đủ để phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội. Cha mẹ, người nuôi dưỡng có trách nhiệm hàng đầu trong việc bảo đảm cho trẻ em được hưởng mức sống ấy.

Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm và giúp đỡ cha mẹ, người có trách nhiệm nuôi dưỡng thực hiện quyền này, nhất là trong trường hợp cần thiết phải thực hiện chương trình hỗ trợ và giúp đỡ vật chất, đặc biệt về dinh dưỡng, quần áo và nhà ở. Kết thúc nhóm quyền được phát triển là quyền được học tập của trẻ em, thể hiện ở Điều 28 của Công ước này, quyền học tập là một quyền tối quan trọng, là loại quyền trong lĩnh vực văn hóa và liên quan đến tất cả các quyền kinh tế, xã hội. Xét theo một khía cạnh khác, đây cũng là quyền dân sự và quyền chính trị bởi quyền giáo dục được xem là trung tâm để thực thi một cách có hiệu quả tất cả các quyền trên. Đây là một quyền đương nhiên mà trẻ em được hưởng, mọi trẻ em không phân biệt điều kiện và hoàn cảnh đều được bình đẳng về cơ hội học tập, được tạo điều kiện để ai cũng được học hành.

Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền học tập; thi hành giáo dục tiểu học bắt buộc, sẵn có và miễn phí cho tất cả mọi người; khuyến khích phát triển các hình thức giáo dục trung học khác nhau, kể cả giáo dục phổ thông và giáo dục dạy nghề và làm cho các hình thức giáo dục này đến được với trẻ em; giáo dục đại học đến được với tất cả mọi 16 người trên cơ sở khả năng của họ; khuyến khích đi học đều đặn ở trường và giảm tỷ lệ bỏ học. Mặt khác, cần có sự thúc đẩy và khuyến khích hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục nhằm góp phần xóa bỏ nạn dốt nát và mù chữ; tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận kiến thức khoa học kỹ thuật và các phương pháp giảng dạy hiện đại. Nhóm Quyền được bảo vệ Do chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời. Quyền được bảo vệ của trẻ em bao gồm quyền được gia đình, nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; bảo vệ trẻ em khỏi sự phân biệt, đối xử vô nhân đạo, bóc lột lao động, xâm hại tình dục, lạm dụng ma túy, bị bỏ rơi, bị bắt cóc và buôn bán.

Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em đều phải bị xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em không chỉ mở rộng đối tượng trẻ em được pháp luật bảo vệ mà còn cụ thể hóa quyền được bảo vệ vào trong các trường hợp cụ thể. Đầu tiên, quyền cơ bản nhất và cũng chính là một trong các nguyên tắc về quyền trẻ em là quyền được bảo vệ khỏi sự phân biệt, đối xử được quy định tại khoản 1 Điều 2 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989. Điều 16 Công ước còn thể hiện trẻ em có quyền được bảo vệ chống lại sự can thiệp vào đời tư, gia đình, nhà cửa hoặc thư tín của các em, chống lại sự công kích bất hợp pháp vào danh dự và thanh danh của các em.

Tiếp đến là quyền được bảo vệ chống lại bạo lực, lạm dụng và sao nhãng đối với trẻ em; bảo vệ trẻ em khỏi sự bóc lột được quy định tại Điều 19.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ