Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học với đề tài "Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Hà Thành Chung thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2007), thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ (mã số: 62.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đoàn Thiện Thuật và PGS.TS. Nguyễn Hồng Cổn.

Trong ngữ pháp tiếng Anh, cú phân từ (participle clause - viết tắt là CPT) là cấu trúc vô định có động từ ở dạng phân từ hiện tại (-ing) hoặc phân từ quá khứ (-ed) làm trung tâm, đảm nhiệm nhiều chức năng ngữ pháp như bổ ngữ, chủ ngữ, phần xen, định ngữ cho danh từ và trạng ngữ cho nòng cốt câu. Mặc dù xuất hiện với tần số cao trong các văn bản học thuật, phong cách trang trọng và tác phẩm văn học, CPT trong các tài liệu ngữ pháp truyền thống và giáo trình giảng dạy ngoại ngữ trước đây chủ yếu chỉ được mô tả khái quát ở bình diện cấu trúc bề mặt hoặc cách dùng biệt lập mà chưa được khảo sát có hệ thống dưới góc độ các lý thuyết ngữ pháp hiện đại (ngữ pháp ngữ nghĩa, ngữ pháp chức năng và ngữ dụng học). Đối với tiếng Việt, dù là một ngôn ngữ phi hình thái không có dạng phân từ của động từ, tiếng Việt vẫn tồn tại các tổ hợp có động từ làm trung tâm thực hiện các chức năng cú pháp tương đương, được giới Việt ngữ học gọi là vị từ làm định ngữ, vị ngữ phụ, vị ngữ thứ yếu hoặc trạng ngữ tình thái. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là chưa có công trình nào đối chiếu một cách toàn diện, đồng bộ giữa cú phân từ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, đồng thời gắn liền với việc xử lý cách chuyển dịch trên tư liệu tác phẩm văn học thực tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể theo 4 nội dung đánh số như sau:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về cú phân từ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt, trên cơ sở đó xác định hướng tiếp cận và khung lý thuyết cho đề tài.
  2. Xác định tiêu chí nhận diện, phân loại và mô tả các đặc điểm cú pháp (kết học), ngữ nghĩa (nghĩa học) và ngữ dụng (dụng học) của cú phân từ định ngữ (CPTĐN), cú phân từ trạng ngữ (CPTTN) trong tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt.
  3. So sánh đối chiếu cú phân từ tiếng Anh với các kết cấu tương đương trong tiếng Việt nhằm chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt về cấu tạo, chức năng hoạt động và phân bố phong cách.
  4. Khảo sát thực trạng dịch cú phân từ tiếng Anh sang tiếng Việt trong các tác phẩm văn học, phân tích nguyên nhân của các cách dịch chưa thỏa đáng và đề xuất các phương án chuyển dịch tối ưu.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là cú phân từ định ngữ (CPTĐN), cú phân từ trạng ngữ (CPTTN) tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt (ngữ động từ định ngữ - NĐTĐN và ngữ động từ trạng ngữ - NĐTTN). Phạm vi khảo sát tập trung vào các kết cấu có duy nhất một thành phần làm trung tâm là động từ (loại trừ cú tuyệt đối có cấu trúc chủ - vị riêng biệt và các kết cấu phân từ đi kèm liên từ hoặc giới từ hiển ngôn). Phạm vi tư liệu bao gồm các tác phẩm tiểu thuyết văn học Anh - Mỹ tiêu biểu của thế kỷ XIX và XX cùng các bản dịch tiếng Việt tương ứng, đối chiếu với tư liệu văn học Việt Nam từ giai đoạn đầu thế kỷ XX đến giai đoạn đương đại và các văn bản báo chí, khoa học.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Về phía ngữ pháp tiếng Anh, các công trình ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp sư phạm tiêu biểu như A Comprehensive Grammar of the English Language (Quirk et al., 1985), Advanced Grammar in Use (Martin Hewings), Longman English Grammar (L.G. Alexander), Practical English Usage (Michael Swan) đã ghi nhận các cấu trúc phân từ nhưng chưa có sự thống nhất về định nghĩa và thuật ngữ. Randolph Quirk và các cộng sự (1972, 1985) xem CPT là một tiểu loại của cú vô định (non-finite clause) và phân loại theo hình thái (-ing clause, -ed clause) cùng chức năng (postmodifying participle clause, subjectless supplementive clause). Về CPT định ngữ, các nhà ngữ pháp cải biến - tạo sinh (Fillmore, 1963; Katz & Postal, 1964; Chomsky, 1965) coi đây là các bổ tố chêm (embedded modifiers) hình thành từ sự rút gọn của cú quan hệ (reduced relative clauses). Về CPT trạng ngữ, George O. Curme (1947) gọi là phân từ đồng vị ngữ (predicate appositive), trong khi Gregory Stump (1985) trong chuyên luận The Semantic Variability of Absolute Constructions đi sâu vào các nhân tố ngữ nghĩa và ngữ dụng xác định mối quan hệ giữa trạng ngữ tự do và cú chính. Đóng góp nổi bật thuộc về Bernd Kortmann (1991, 1995) với công trình Free Adjuncts and Absolutes in English, phân tích chi tiết vấn đề kiểm soát chủ ngữ ẩn (control), các trạng ngữ tự do không liên hệ (unrelated free adjuncts) và các nhân tố chi phối việc giải mã ngữ nghĩa liên cú.

Về phía tiếng Việt, các đơn vị có động từ làm trung tâm đứng ở vị trí định ngữ hoặc trạng ngữ được đề cập rải rác dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau:

  • Nhóm kết cấu định ngữ: Nguyễn Tài Cẩn (1970) xếp vào loại danh ngữ có động từ làm định tố và quy về dạng cú làm định tố; Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1983) xếp vào phụ tố hạn định thuộc khu vực sau của danh ngữ; Cao Xuân Hạo (1991) định danh là định ngữ có dạng một động ngữ chỉ hành động hoàn thành hoặc có tính chất nhất điểm; Đinh Văn Đức (1986) xem cấu trúc danh ngữ có động từ/đoản ngữ động từ mang dáng dấp một mệnh đề; Diệp Quang Ban (1998, 2005) xếp vào định ngữ miêu tả hoặc tổ hợp từ dùng với chức năng chỉ định hạn định.
  • Nhóm kết cấu trạng ngữ: Nguyễn Kim Thản (1977, 1997), Hoàng Trọng Phiến (1980) và Diệp Quang Ban xếp vào trạng ngữ tình thái, trạng ngữ tình hình hoặc trạng gia ngữ (gia ngữ); Hoàng Tuệ (1962), Bưxtrôp, Nguyễn Tài Cẩn, Xtankêvich (1975), Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1998) coi đây là vị ngữ thứ yếu hay vị ngữ phụ; Đào Thanh Lan (2002) theo định hướng của Lưu Văn Lăng gọi là minh xác ngữ.

Vị trí của luận án được xác lập tại điểm giao thoa giữa ngữ pháp miêu tả, ngôn ngữ học đối chiếu và lý thuyết dịch thuật. Luận án giải quyết khoảng trống học thuật bằng cách thống nhất hệ thuật ngữ (sử dụng thuật ngữ "cú" thay cho "mệnh đề" theo đề xuất của Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê; định danh chuẩn xác "cú phân từ định ngữ/trạng ngữ" và "ngữ động từ định ngữ/trạng ngữ"), hệ thống hóa các tiêu chí phân loại và giải thích cơ chế hành chức của các kết cấu này dựa trên các lý thuyết ngôn ngữ học đương đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án thiết lập khung phân tích đa diện dựa trên các lý thuyết ngôn ngữ học sau:

  • Nguyên lý nỗ lực ít nhất và Nguyên lý tiết kiệm: Thuyết của George K. Zipf (1949) về việc con người giảm thiểu tối đa năng lượng tiêu tốn trong giao tiếp; Nguyên lý tiết kiệm của André Martinet (1960, 1963) về sự cân bằng giữa nhu cầu truyền đạt thông tin và sự trì trệ cơ học của bộ nhớ và cơ quan phát âm; Mô hình Tân Grice của Stephen C. Levinson (1983, 1987, 2000) về lực tối thiểu hóa ngôn từ của người nói dẫn đến sự tối đa hóa suy luận ngữ dụng của người tiếp nhận thông qua các dạng rút gọn và hồi chiếu zêrô (zero anaphora).
  • Ngữ pháp ngữ nghĩa của Wallace L. Chafe (1970): Luận điểm về cấu trúc ngữ nghĩa danh - động từ, mối quan hệ ngữ nghĩa bộ phận (partitive semantic relation) nhằm thu hẹp phạm vi ngoại diên của danh từ trung tâm, và điều kiện lược bỏ đại từ quan hệ cùng trợ động từ be.
  • Ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K. Halliday (1985, 2005): Khung phân tích câu phức qua mức độ phụ thuộc lẫn nhau (phụ thuộc - hypotaxis, đồng đẳng - parataxis) và mối quan hệ lôgic - ngữ nghĩa (bành trướng: chi tiết hóa - elaborating, mở rộng - extending, tăng cường - enhancing; bành trướng chêm - embedded expansion).
  • Lý thuyết mạch lạc liên cú và cấu trúc thông tin: Khái niệm cận cảnh (foreground) và hậu cảnh (background) của Paul J. Hopper (1979); quan điểm về tính mạch lạc liên cú và hệ thống thời - thể - tình thái của Talmy Givón (1984, 1990).
  • Ngữ dụng học về quy chiếu: Khung lý thuyết quy chiếu của George Yule (1996) và Georgia M. Green.
  • Lý thuyết đánh giá chất lượng bản dịch: Mô hình của Juliane House (1997) về sự tương đương chức năng và dịch chức năng (functional equivalence).
Phương pháp nghiên cứu Kỹ thuật và thao tác thực hiện Mục đích ứng dụng trong luận án
Phương pháp miêu tả Phân tích cấu trúc thành tố, kiểm diện ngữ cảnh, cải biến cú pháp, phân tích nghĩa học và ngữ dụng Miêu tả đồng đại các đặc điểm kết học, nghĩa học và dụng học của CPT tiếng Anh và NĐT tiếng Việt
Phương pháp đối chiếu Đối chiếu dấu hiệu ở cấp độ dưới câu trên 4 bình diện: phạm trù, cấu trúc, chức năng và phong cách Xác định các điểm tương đồng và dị biệt giữa hai hệ thống ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt
Phương pháp thống kê Khảo sát tần số xuất hiện, lập bảng phân bố tỷ lệ phần trăm theo tác gia, thời kỳ và phong cách văn bản Định lượng hóa tần số sử dụng CPT và NĐT trong các văn phong, làm cơ sở thực nghiệm cho các luận điểm

Nguồn ngữ liệu của luận án được thu thập từ: (1) Các trích đoạn tiểu thuyết tiêu biểu của các nhà văn Anh - Mỹ thế kỷ XIX và XX và các bản dịch tiếng Việt tương ứng; (2) Tác phẩm văn xuôi của các nhà văn Việt Nam tiêu biểu từ trước năm 1945 đến đương đại (như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Tô Hoài...); (3) Các văn bản khoa học, báo chí và cứ liệu trích dẫn từ các công trình nghiên cứu đi trước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết

Chương này dành cho việc tổng quan lịch sử nghiên cứu, định vị các quan điểm lý thuyết và thiết lập khung phân tích học thuật. Tác giả chỉ ra CPT tiếng Anh có 8 chức năng ngữ pháp đối với phân từ hiện tại (-ing) và 3 chức năng đối với phân từ quá khứ (-ed). Luận án giới hạn phạm vi khảo sát vào CPT định ngữ và CPT trạng ngữ có duy nhất một trung tâm động từ, loại bỏ cú tuyệt đối và các kết cấu đi kèm liên từ/giới từ. Trong tiếng Việt, tác giả luận giải việc sử dụng thuật ngữ "ngữ động từ định ngữ" và "ngữ động từ trạng ngữ" để biểu thị chính xác cấu trúc có động từ làm trung tâm hành chức ở bậc dưới câu. Khung lý thuyết của chương tích hợp nguyên lý tiết kiệm của Martinet/Zipf, ngữ pháp ngữ nghĩa của Chafe, ngữ pháp chức năng của Halliday, lý thuyết cận cảnh - hậu cảnh của Hopper/Givón và mô hình dịch thuật của House.

Chương 2: Cú phân từ định ngữ tiếng Anh và ngữ động từ định ngữ tiếng Việt

Chương 2 đi sâu phân tích đối chiếu CPTĐN trong tiếng Anh và NĐTĐN trong tiếng Việt trên các bình diện kết học, nghĩa học và dụng học.

Mối quan hệ giữa Cú quan hệ (CQH), Cú phân từ (CPT) và Ngữ động từ (NĐT):
                                             (Đối chiếu loại hình)
                                       [Ngữ động từ định ngữ tiếng Việt (NĐTĐN)]

Về cú phân từ định ngữ tiếng Anh: CPTĐN hạn định là dạng rút gọn của cú quan hệ (CQH) qua cơ chế chuyển đổi cấp độ (rank shift), hành chức như một hậu bổ tố trong cụm danh từ. Luận án phân tích điều kiện rút gọn: chỉ các CQH có đại từ quan hệ làm chủ ngữ mới có thể rút gọn thành CPTĐN; các trường hợp động từ trạng thái biểu thị tri giác, sở hữu hoặc nhận thức thường không chuyển hóa sang dạng CPT -ing trừ khi có sự biến đổi nghĩa sang hành động. Về mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng, CPTĐN có vai trò định danh hoặc hạn định phạm vi ngoại diên của danh từ trung tâm. Nếu danh từ trung tâm mang tính phiếm chỉ hoặc không hạn định, CPTĐN đóng vai trò xác định đối tượng; nếu danh từ đã được xác định cụ thể, CPTĐN đóng vai trò bổ sung thông tin hậu cảnh.

Về ngữ động từ định ngữ tiếng Việt: NĐTĐN đứng sau danh từ trung tâm, tạo thành đoản ngữ chính phụ. Điểm khác biệt cơ bản là tiếng Việt không có hình thái biến tố động từ để khu biệt chủ động/bị động như -ing hay -ed, do đó ranh giới giữa NĐT làm định ngữ và NĐT làm vị ngữ chính phải dựa vào cấu trúc nòng cốt toàn câu và các thao tác chêm xen (như chêm kết từ "mà", "được", "bị"). Tác giả khảo sát phân bố của NĐTĐN trong các thể loại văn bản khác nhau, chỉ ra tần số xuất hiện cao trong văn phong khoa học và báo chí nhằm cô đọng dung lượng thông tin.

Loại hình kết cấu đối chiếu Cú phân từ định ngữ tiếng Anh (CPTĐN) Ngữ động từ định ngữ tiếng Việt (NĐTĐN)
Dấu hiệu hình thái Động từ mang dấu hiệu -ing (chủ động) hoặc -ed (bị động) Động từ giữ nguyên dạng, không có biến tố hình thái
Vị trí cú pháp Đứng sau danh từ trung tâm (hậu bổ tố) Đứng sau danh từ trung tâm
Cơ chế hình thành Rút gọn từ cú quan hệ (omission of relative pronoun + be) Đoản ngữ động từ trực tiếp kết hợp hạn định cho danh từ
Biểu hiện bị động Đánh dấu trực tiếp qua phân từ quá khứ (-ed) Dùng trật tự từ, ngữ cảnh hoặc kết từ "được/bị"

Chương 3: Cú phân từ trạng ngữ tiếng Anh và ngữ động từ trạng ngữ tiếng Việt

Chương 3 tập trung khảo sát CPTTN tiếng Anh và NĐTTN tiếng Việt trong mối tương quan với nòng cốt câu chính.

Về cú phân từ trạng ngữ tiếng Anh: Luận án phân tích các đặc điểm cú pháp như vị trí xuất hiện (đầu câu, giữa câu, cuối câu) và quy tắc kiểm soát chủ ngữ ẩn (control). CPTTN thường đồng chủ ngữ với cú chính, tuy nhiên luận án chỉ ra các trường hợp ngoại lệ như phân từ độc lập/không liên hệ (unrelated participle clauses) đã được ngữ dụng hóa. Về ngữ nghĩa, CPTTN biểu thị các mối quan hệ thời gian, nguyên nhân, điều kiện, nhượng bộ và phương thức/phương tiện. Theo lý thuyết Halliday, CPTTN thuộc loại bành trướng tăng cường hoặc chi tiết hóa không được đánh dấu hiển ngôn bằng liên từ. Theo lý thuyết Hopper và Givón, CPTTN đưa sự tình về dòng thông tin hậu cảnh để làm nổi bật sự kiện chính ở cận cảnh.

Về ngữ động từ trạng ngữ tiếng Việt: NĐTTN thường xuất hiện ở vị trí đầu câu, ngăn cách với nòng cốt câu bằng dấu phẩy. Luận án chứng minh NĐTTN trong tiếng Việt hiện đại là một bước phát triển mới, chịu ảnh hưởng nhất định từ cấu trúc cú pháp của các ngôn ngữ phương Tây đầu thế kỷ XX. NĐTTN đảm nhiệm chức năng định vị bối cảnh thời gian, không gian, phương thức hoặc điều kiện cho hành động chính nêu ở vị ngữ. Tác giả phân biệt rõ NĐTTN (có động từ làm trung tâm) với các trạng ngữ tình thái có tính từ hoặc cụm chủ - vị làm trung tâm.

Đặc trưng đối chiếu Cú phân từ trạng ngữ tiếng Anh (CPTTN) Ngữ động từ trạng ngữ tiếng Việt (NĐTTN)
Vị trí trong câu Linh hoạt: đầu câu, giữa câu (phần xen), cuối câu Điển hình ở đầu câu (trước chủ ngữ), hiếm khi ở cuối câu
Nhận diện chủ thể Dựa vào quy tắc kiểm soát chủ ngữ nòng cốt hoặc ngữ cảnh Đồng chủ thể với chủ ngữ chính hoặc lâm thời quy chiếu
Quan hệ ngữ nghĩa Thời gian, nguyên nhân, điều kiện, nhượng bộ, phương thức Thời gian, phương thức, hoàn cảnh, tiền đề hành động
Chức năng diễn ngôn Đưa thông tin vào hậu cảnh để làm nổi bật cận cảnh Thiết lập khung đề tài, bối cảnh cho thuyết ngữ

Chương 4: Cách dịch cú phân từ tiếng Anh sang tiếng Việt

Chương 4 khảo sát thực tiễn chuyển dịch CPT từ tiếng Anh sang tiếng Việt trên nguồn ngữ liệu các tác phẩm văn học dịch. Tác giả tổng kết các mô hình chuyển dịch chủ yếu:

  1. Cách dịch CPTĐN:

    • Đối với CPTĐN không hạn định: Dịch thành một câu ghép đẳng lập, một cú phụ giải thích hoặc một cụm vị ngữ thứ hai.
    • Đối với CPTĐN chủ động hạn định: Dịch thành NĐTĐN trực tiếp đi sau danh từ, hoặc dùng kết từ "mà", "đang".
    • Đối với CPTĐN bị động hạn định: Dịch trực tiếp sang NĐTĐN mang nghĩa thụ động, hoặc thêm các từ chỉ thể bị động như "được", "bị", hoặc chuyển đổi trật tự cú pháp sang cấu trúc chủ động thuần Việt.
  2. Cách dịch CPTTN:

    • CPTTN đứng trước cú chính: Dịch thành NĐTTN đứng đầu câu tương ứng; hoặc khôi phục thành cú trạng ngữ đầy đủ có liên từ chỉ thời gian ("khi", "sau khi"), nguyên nhân ("vì", "do"), điều kiện ("nếu"); hoặc dịch thành một vế câu trong chuỗi hành động kế tiếp.
    • CPTTN bị động: Thường được chuyển đổi linh hoạt thành dạng chủ động hoặc cụm từ chỉ trạng thái được tiếp nhận.
    • CPTTN đứng sau cú chính: Dịch thành vị ngữ đồng đẳng (chuỗi vị ngữ nối tiếp) hoặc cụm từ chỉ phương thức, kết quả đi sau.
    • CPTTN liên quan đến bộ phận cơ thể và câu dẫn thoại: Luận án phân tích các lỗi dịch thô, máy móc và đề xuất phương án chuyển ngữ tự nhiên, thuần Việt.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:

Về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và xác lập khung miêu tả nhất quán đối với cú phân từ tiếng Anh và ngữ động từ tiếng Việt dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa ngữ pháp chức năng của Halliday, ngữ pháp ngữ nghĩa của Chafe, lý thuyết thông tin cận cảnh - hậu cảnh của Hopper/Givón và nguyên lý tiết kiệm ngôn ngữ của Martinet/Levinson.
  • Làm sáng tỏ bản chất ngôn ngữ học của quá trình rút gọn cú: CPTĐN và CPTTN tiếng Anh là kết quả của lực tối thiểu hóa ngôn từ nhằm tiết kiệm nỗ lực phát ngôn, chuyển đổi thông tin từ cận cảnh sang hậu cảnh, thúc đẩy quá trình suy luận ngữ dụng tối đa ở người tiếp nhận.
  • Xác định rõ nét các điểm tương đồng và dị biệt về loại hình giữa một ngôn ngữ biến hình (tiếng Anh) và một ngôn ngữ đơn lập (tiếng Việt) trong việc sử dụng cấu trúc động từ vô định/ngữ động từ dưới bậc câu để biểu đạt chức năng định ngữ và trạng ngữ.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp cơ sở khoa học và hệ thống phân loại chi tiết giúp người học tiếng Anh nhận thức đúng cấu trúc, ý nghĩa và cách vận dụng CPT.
  • Đề xuất các giải pháp chuyển dịch cụ thể cho từng loại CPT sang tiếng Việt, khắc phục tình trạng dịch gượng gạo, dịch máy móc (như lạm dụng từ "được/bị" khi gặp phân từ quá khứ, hoặc dịch nguyên xi kết cấu phân từ chỉ bộ phận cơ thể), hỗ trợ nâng cao chất lượng biên dịch văn học và dịch thuật chuyên ngành.
  • Ứng dụng trực tiếp vào công tác giảng dạy các học phần Ngữ pháp học tiếng Anh, Ngữ pháp đối chiếu, Lý thuyết dịch và Thực hành dịch cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh tại các cơ sở đào tạo đại học (đặc biệt là Đại học Ngoại ngữ Quân sự).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào phạm vi và đối tượng nghiên cứu được công bố trong văn bản, luận án có các giới hạn xác định:

  • Luận án chỉ tập trung khảo sát các cú phân từ có một thành phần duy nhất là động từ làm trung tâm; chưa đi sâu khảo sát toàn diện loại cú tuyệt đối (absolutes - kết cấu có cả chủ ngữ danh từ riêng và phân từ) cũng như các dạng phân từ kết hợp cố định sau giới từ hoặc liên từ chuyên biệt.
  • Về phạm vi tư liệu, nguồn ngữ liệu thực chứng tập trung chủ yếu vào văn bản văn học viết (tiểu thuyết thế kỷ XIX-XX) và một số văn phong báo chí, khoa học; chưa mở rộng khảo sát trên ngữ liệu khẩu ngữ tự nhiên hoặc các văn bản đa phương thức đương đại.
  • Hướng nghiên cứu tiếp có thể phát triển việc đối chiếu cú tuyệt đối tiếng Anh với các cấu trúc tương ứng trong tiếng Việt, khảo sát sự phân bố của các kết cấu phân từ trên các ngữ đoàn (corpus) điện tử quy mô lớn, hoặc nghiên cứu sâu hơn về ứng dụng trong dịch máy tự động.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Ngôn ngữ học, Lý luận ngôn ngữ và Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu: Tham khảo khung lý thuyết tích hợp giữa ngữ pháp chức năng hệ thống, ngữ nghĩa học và ngữ dụng học trong việc xử lý các kết cấu dưới câu.
  • Giảng viên và sinh viên chuyên ngành Ngữ văn Anh, Ngôn ngữ Anh: Sử dụng nội dung Chương 2 và Chương 3 làm tài liệu giảng dạy chuyên sâu về cú pháp, hình thái học tiếng Anh và ngữ pháp đối chiếu Anh - Việt.
  • Dịch giả và người thực hành biên dịch: Tham khảo hệ thống các quy tắc và mô hình chuyển dịch tại Chương 4 để nâng cao kỹ năng xử lý các cấu trúc câu phức, câu nén trong tác phẩm văn học và văn bản báo chí.

Câu hỏi thường gặp

1. Cú phân từ (CPT) trong tiếng Anh được nhận diện dựa trên những tiêu chí nào? Theo luận án, CPT được nhận diện dựa trên ba tiêu chí:

  • Tiêu chí hình thái: Động từ làm trung tâm ở dạng phân từ hiện tại (-ing) hoặc phân từ quá khứ (-ed).
  • Tiêu chí cấu trúc: Có chủ ngữ ẩn (covert subject) và chủ ngữ ẩn này có thể phục nguyên được dựa vào ngữ cảnh hoặc nòng cốt câu.
  • Tiêu chí chức năng: Đóng vai trò làm định ngữ (CPTĐN) hoặc trạng ngữ (CPTTN) trong câu.

2. Tại sao tiếng Việt không có "cú phân từ" nhưng lại có "kết cấu tương đương"? Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, không có hệ thống biến thái hình thái động từ (không có dạng tiếp vĩ ngữ -ing hay -ed như tiếng Anh). Do đó, tiếng Việt không có phạm trù "phân từ". Tuy nhiên, tiếng Việt có các đoản ngữ động từ (ngữ động từ) có chức năng ngữ pháp và vị trí tương đương: đứng sau bổ nghĩa cho danh từ (NĐTĐN) tương đương CPTĐN, hoặc đứng đầu câu định vị hoàn cảnh cho nòng cốt câu (NĐTTN) tương đương CPTTN.

3. Mối quan hệ giữa CPTĐN tiếng Anh và cú quan hệ (CQH) được lý giải như thế nào? CPTĐN hạn định được xác định là dạng rút gọn của cú quan hệ (reduced relative clause) thông qua cơ chế chuyển đổi cấp độ (rank shift). Quá trình rút gọn này lược bỏ đại từ quan hệ và trợ động từ be, tuân theo nguyên lý nỗ lực ít nhất và nguyên lý tiết kiệm nhằm giảm tải phương tiện hình thức nhưng vẫn đảm bảo định danh và xác định phạm vi của danh từ trung tâm.

4. Luận án giải thích thế nào về vai trò diễn ngôn của CPTTN theo lý thuyết cận cảnh - hậu cảnh? Theo lý thuyết của Hopper và Givón, trong diễn ngôn, các sự kiện chính của cốt truyện tạo thành dòng sự kiện nòng cốt gọi là cận cảnh (foreground), được biểu thị bằng động từ hữu định. CPTTN chứa động từ vô định không có chức năng tường thuật sự kiện chính mà dùng để bổ sung thông tin nền, thuyết minh hoàn cảnh hoặc điều kiện, tức đưa sự tình về vị trí hậu cảnh (background) để làm nổi bật sự kiện chính.

5. Khi dịch CPTTN bị động sang tiếng Việt, tác giả khuyến nghị phương pháp xử lý nào? Tác giả khuyến nghị không nên dịch một cách thô cứng theo cấu trúc bị động hình thức (lạm dụng các từ "bị/được"). Tùy thuộc vào ngữ cảnh và ngữ nghĩa của động từ, dịch giả có thể chuyển thành ngữ động từ chỉ trạng thái, chuyển đổi cấu trúc cú pháp thành câu chủ động, hoặc khôi phục thành một cú phụ có liên từ chỉ nguyên nhân/thời gian phù hợp với cách diễn đạt tự nhiên của tiếng Việt.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hà Thành Chung là công trình nghiên cứu chuyên sâu về cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các ngữ động từ tương đương trong tiếng Việt trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học. Bằng việc kết hợp các khung lý thuyết ngữ pháp hiện đại và phương pháp miêu tả - đối chiếu thực chứng, luận án đã làm sáng tỏ cơ chế cấu trúc, đặc trưng ngữ nghĩa và giá trị diễn ngôn của các kết cấu này trong hai ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp luận cứ khoa học cho chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ và Ngôn ngữ học đối chiếu mà còn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác giảng dạy ngoại ngữ và hoạt động dịch thuật Anh - Việt.