phần Mở đầu, Kết luận, luận án có cấu trúc gồm 4 chương. Tổng quan và cơ sở lý luận Trong chương này, trên cơ sở hệ thống hóa các công trình, bài viết trong và ngoài nước liên quan mật thiết đến đề tài, luận án lựa chọn và xác định những vấn đề ngữ pháp chính mà luận án sẽ tập trung nghiên cứu. Theo đó, luận án tiến hành phân tích cơ sở lý thuyết của đề tài, và xác định, làm rõ một số khái niệm cơ bản liên quan đến ba vấn đề chính mà luận án sẽ đi sâu thảo luận trong những chương sau bao gồm: cách diễn đạt ý nghĩa số, quán từ, cách dùng thì. Ảnh hưởng tiêu cực của khác biệt ngữ pháp giữa tiếng Việt và tiếng Anh đến cách biểu đạt ý nghĩa số của danh từ trong tiếng Anh Luận án chỉ ra những điểm khác biệt trong cách biểu đạt ý nghĩa số của danh từ trong tiếng Anh và tiếng Việt.
Theo đó, luận án nghiên cứu, phân tích những ảnh hưởng tiêu cực gây ra từ những khác biệt đấy đến cách biểu đạt ý nghĩa số của danh từ tiếng Anh trong luận văn của học viên cao học Việt Nam. Ảnh hưởng tiêu cực của khác biệt ngữ pháp giữa tiếng Việt và tiếng Anh đến cách dùng quán từ trong tiếng Anh Dựa trên cơ sở so sánh đối chiếu một số từ có tư cách quán từ trong tiếng Việt với những cách dùng tương đương trong tiếng Anh, luận án rút ra được một số điểm khác biệt giữa hệ thống quán từ tiếng Việt và tiếng Anh. Sau đó, luận án tiến hành hệ thống hóa một số nhóm lỗi về quán từ và phân tích những ảnh hưởng tiêu cực gây ra những lỗi đó trong luận văn của học viên cao học Việt Nam. Ảnh hưởng tiêu cực của khác biệt ngữ pháp giữa tiếng Việt và tiếng Anh đến cách biểu đạt thì trong tiếng Anh Trong chương này, luận án tập trung vào một số phó từ cơ bản được hầu hết các nhà Việt ngữ học đề cập tới khi mô tả các phương tiện biểu thị thì trong tiếng Việt để làm căn cứ thực hiện đối chiếu với phương thức biểu hiện thì trong tiếng Anh.
Trên cơ sở những khác biệt xác định được, luận án tổng hợp các nhóm lỗi và đi sâu phân tích lý giải nguyên nhân của các nhóm lỗi đó. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghi n cứu 1. Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài 1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới về sự thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Thụ đắc ngôn ngữ thứ hai là một phân ngành nghiên cứu về những phương thức và quá trình thụ đắc một ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ của người học. Từ rất sớm, các nghiên cứu về sự thụ đắc ngôn ngữ thứ hai đã được thực hiện với những công trình tiêu biểu sau. Thứ nhất, với mục đích tìm hiểu đặc điểm và sự biến hóa phát triển ngôn ngữ thứ hai của người học, trong số những nghiên cứu sớm nhất không thể không kể đến một số tác giả như Coulter (1968), Richard (1971), Dulay và Burt (1974), LoCoco (1975), Butterworth (1978), Felix (1980), Felix & Hahn (1985), v. Các nhà nghiên cứu đã đặt ra một câu hỏi là trong môi trường học tập trên lớp học, người học ngôn ngữ thứ hai liệu có tuân thủ theo một trình tự giống như trẻ em thụ đắc tiếng mẹ đẻ trong môi trường ngôn ngữ tự nhiên hay không.
Qua nhiều nghiên cứu và thực nghiệm, các nhà nghiên cứu đều đồng tình với quan điểm rằng, những cấu trúc ngôn ngữ được thụ đắc sớm trong môi trường tự nhiên cũng được nắm bắt rất nhanh trong môi trường học tập trên lớp, còn những cấu trúc ngôn ngữ được thụ đắc muộn trong môi trường tự nhiên thì trong môi trường học tập trên lớp cũng rất khó nắm bắt. Điều này thể hiện quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai cũng tuân theo một trình tự gần giống với quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất, những chiến lược mà người học sử dụng cũng giống với chiến lược được dùng khi học ngôn ngữ thứ nhất. Đó chính là đặc điểm chung của người học ngôn ngữ thứ hai. Thứ hai, một số tác giả lại hướng đối tượng nghiên cứu vào việc phân tích những nhân tố bên trong và nhân tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai.
Công trình tiêu biểu nhất có thể kể đến là của Selinker (1972) có tên “Interlanguage” (ngôn ngữ trung gian). Theo tác giả, sự thành công của người học ngoại ngữ lại khác nhau phụ thuộc vào những yếu tố ảnh hưởng, tác động đến quá trình học ngoại ngữ, bao gồm yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, như nhu cầu giao tiếp, sự ảnh hưởng giao thoa và chuyển di ngôn ngữ; các yếu tố bên trong (như thái độ, động cơ người học,…); hạn chế của quá trình thụ đắc (ảnh hưởng tiêu 16 z cực của ngôn ngữ trung gian, khả năng tham gia nhu cầu giao tiếp khác nhau…). Những yếu tố này có những tác động khác nhau, và dẫn đến kết quả thụ đắc ngôn ngữ chính vì vậy cũng khác nhau. Còn Lightbown và Nina Spada (2013) lại đưa ra một số nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai như ngữ cảnh xã hội, kinh nghiệm xã hội, mối quan hệ giữa ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai, hay một số nhân tố phụ khác như tuổi tác người học, năng khiếu ngôn ngữ, động cơ học tập và chất lượng dạy-học.
Như vậy, qua các công trình kể trên, có thể thấy với một quá trình thụ đắc gần giống với ngôn ngữ thứ nhất, các nhà nghiên cứu đặt ra câu hỏi rằng khi thụ đắc ngôn ngữ thứ hai, cơ chế thụ đắc ngôn ngữ này liệu có còn hay không? Ngoài ra, người học đã có kiến thức nhất định về ngôn ngữ thứ nhất thì những kiến thức này có ảnh hưởng đến việc tiếp thụ ngôn ngữ thứ hai hay không? Đây là một trong những vấn đề nóng hổi trong lĩnh vực nghiên cứu về thụ đắc ngôn ngữ thứ hai hiện nay. Một số kết quả nghiên cứu sẽ được chúng tôi trình bày khi điểm lại một số công trình tiêu biểu về ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ tới ngôn ngữ thứ hai dưới đây. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ đối với ngôn ngữ thứ hai Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để thảo luận về ảnh hưởng tiêu cực của khác biệt giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ đích tới việc học một ngôn ngữ thứ hai. Dưới đây, chúng tôi sẽ điểm lại một số nghiên cứu tiêu biểu trên các bình diện về từ vựng, ngữ pháp, và ngữ âm trong các loại biến thể tiếng Anh tại những nước sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai và như một ngoại ngữ.
Đầu tiên, về biến thể từ vựng, tác giả tiêu biểu nhất là Butler (1999), người biên soạn Từ điển Macquarie với mục đích đưa ra một cuốn từ điển tiếng Anh bao gồm những từ ngữ được chấp nhận mang tính đặc trưng cho một số nước cụ thể ở vùng Đông Nam Á. Trong khảo sát về thái độ của người Philippine và Thái Lan về đổi mới từ vựng, Butler (1999) đã nhận thấy hầu hết những người Philippine được khảo sát đều tin rằng những mục từ vựng địa phương nên có vị trí trong từ điển về tiếng Anh châu Á. Mối quan tâm chủ yếu là những từ nào sẽ có mặt trong cuốn từ điển đó. Mặt khác, người Thái Lan ít có khuynh hướng muốn cuốn từ điển có những từ tiếng Anh địa phương.
Do vậy, nhìn chung, trong những nước được nêu, dường 17 z như nếu tiếng Anh được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày trong một ngữ cảnh đa văn hóa càng nhiều, thì các cá nhân trong đất nước đó càng có khuynh hướng chấp nhận những đổi mới về từ vựng. Trên bình diện ngữ pháp, có thể thấy rằng tại châu Á, vấn đề này xuất hiện trong những luận án, luận văn, hoặc công bố khoa học từ những năm 1960, tuy không nhiều nhưng cũng thể hiện những mối quan tâm đầu tiên của những nhà nghiên cứu. Ví dụ, luận văn thạc sĩ của Siew Yue Killingley (1967) nghiên cứu tổng thể về ngữ pháp tiếng Anh Malaysia và 2 năm sau đó có báo cáo khoa học của Senthelakshmi (1969) về những vấn đề mà người Trung Quốc gặp phải khi học các thì của tiếng Anh. Sang đến những năm 1970, vấn đề này vẫn được bàn luận tới, cụ thể có thể kể đến luận văn thạc sĩ của Elaine Wijesuria (1972) về “Cấu trúc ngữ pháp của tiếng Anh và tiếng Malaysia – phân tích đối chiếu về cấu trúc đoản ngữ”, và luận văn thạc sĩ của Augustin (1976) về vấn đề giảng dạy môn Đọc hiểu cho sinh viên người Malaysia thông qua phân tích ngữ pháp.
Hầu hết những nghiên cứu này đều hướng tới một điểm chung là mô tả một số đặc điểm ngữ pháp trong tiếng Anh khi được sử dụng trong bối cảnh từng nước khác nhau tại châu Á, từ đó cho người đọc thấy được sự ảnh hưởng tiêu cực của sự khác biệt ngữ pháp giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ đích tới việc sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai. Sang đến những năm 1980, một số tác giả người châu Á, đặc biệt là các nhà ngôn ngữ học người Malaysia đã đóng góp được khá nhiều bài báo và công bố khoa học về vấn đề này. Trong các nghiên cứu đó, có lẽ nghiên cứu của Irene Wong (1981) có tên “Malaysian English as a New Variety of English: The structural aspects” (Tiếng Anh Malaixia với tư cách là một biến thể mới của tiếng Anh: bình diện cấu trúc) được coi là toàn diện nhất khi các biến thể của ngôn ngữ về mặt cấu trúc dưới tác động của tiếng mẹ đẻ là tiếng Malaysia được đề cập tới. Cùng năm đó, luận văn thạc sĩ của tác giả Silva (1981) tập trung vào khía cạnh động từ khuyết thiếu khi tác giả nghiên cứu về cấu trúc và chức năng của tiếng Anh-Malaysia cũng đón nhận được nhiều sự ủng hộ.
Nghiên cứu này mặc dù chỉ tập trung vào một bình diện ngôn ngữ nhỏ là động từ khuyết thiếu, nhưng cũng cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng thể về quá trình đơn giản hóa (simplification process) khi tiếng Anh được sử dụng tại Malaysia.