Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954" mang mã số chuyên ngành 62 22 03 15 (Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam), do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Xuân thực hiện và bảo vệ năm 2015 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà và TS Nguyễn Bình.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả khẳng định công tác xây dựng Đảng có vai trò quyết định đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong toàn bộ tiến trình cách mạng. Giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp để lại nhiều kinh nghiệm về công tác xây dựng Đảng trên các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức. Liên khu III là địa bàn chiến lược ở châu thổ sông Hồng, vừa là tuyến đầu trực tiếp đối đầu với các âm mưu bình định của quân Pháp, vừa là hậu phương cung ứng sức người, sức của cho các chiến trường toàn quốc. Dù vậy, theo đánh giá của tác giả, thực tiễn phong phú về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III trong thời kỳ 1948 - 1954 trước đây chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và thấu đáo, mà chủ yếu chỉ xuất hiện tản mạn trong các công trình lịch sử chiến tranh hoặc lịch sử địa phương.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phục dựng, làm sáng tỏ quá trình xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954; từ đó tổng kết, đúc rút những kinh nghiệm thực tiễn nhằm phục vụ công tác xây dựng Đảng hiện nay. Để đạt được mục đích đó, luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể được đánh số như sau:

  1. Sưu tầm, hệ thống hóa tư liệu về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954.
  2. Phân tích làm rõ chủ trương của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng nói chung và đối với công tác xây dựng Đảng ở Liên khu III nói riêng từ năm 1948 đến năm 1954.
  3. Tái hiện quá trình Đảng bộ Liên khu III lãnh đạo, thực hiện công tác xây dựng Đảng trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức từ năm 1948 đến năm 1954.
  4. Nêu bật những kết quả đạt được; chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm; đúc kết những kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận, thực tiễn qua thực tiễn công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III, tập trung vào chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ Liên khu đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng và các kết quả đạt được.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:

  • Về nội dung: Chủ trương xây dựng Đảng của Trung ương Đảng và quá trình Đảng bộ Liên khu III triển khai thực hiện công tác xây dựng Đảng trên ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức.
  • Về không gian: Được phân chia theo hai giai đoạn biến động địa giới hành chính:
    • Từ tháng 2-1948 đến tháng 5-1952: Gồm địa bàn 11 tỉnh, thành phố: Hải Kiến, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Ninh Bình, Hòa Bình và Hà Nội (trong đó tháng 12-1948, tỉnh Hải Kiến tách thành thành phố Hải Phòng và tỉnh Kiến An; ngày 11-5-1949, Hà Nội tách khỏi Liên khu III thành Đặc khu trực thuộc Trung ương).
    • Từ tháng 5-1952 đến tháng 7-1954: Gồm địa bàn 6 tỉnh, thành phố Hữu ngạn sông Hồng: Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Ninh Bình và Hòa Bình (sau khi Trung ương tách 5 tỉnh phía Bắc sông Hồng thành lập Khu Tả ngạn sông Hồng theo Nghị quyết số 08/NQ-TU ngày 24-5-1952).
  • Về thời gian: Bắt đầu từ khi thành lập Liên khu III (tháng 2-1948) đến khi Hiệp định Genève được ký kết (tháng 7-1954).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả hệ thống hóa các tài liệu liên quan thành ba nhóm công trình chính:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu chung về Lịch sử Đảng và công tác xây dựng Đảng. Các công trình tiêu biểu gồm: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo, tập 1 (1920-1954); cuốn Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập III: Đảng lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc (1945-1954); bộ sách Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954 (tập I và tập II); cuốn 50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam; cuốn Lịch sử công tác đảng công tác chính trị chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945-1975; công trình Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học của Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị; cuốn Sơ thảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam 1930-2000 và Lịch sử biên niên công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam (1925-1954); công trình Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2000); cuốn Đảng Cộng sản Việt Nam, những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng của GS, TS Mạch Quang Thắng; cuốn Lịch sử công tác xây dựng Đảng (1930-2011) của PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc; cuốn Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân Việt Nam (1930-1995) do PGS, TS Trịnh Nhu chủ biên. Cùng với đó là các bài nghiên cứu trên Tạp chí Lịch sử Đảng của các tác giả Đậu Thế Biểu, Nguyễn Quý, Nguyễn Danh Lợi, Nguyễn Thị Kim Thanh, Nguyễn Quang Hòa, Nguyễn Ngọc Mão; đề tài khoa học cấp Nhà nước của GS, TS Trịnh Nhu và đề tài khoa học cấp bộ của TS Nguyễn Bình về xây dựng hệ thống tổ chức Đảng giai đoạn 1945 - 1954.

Nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu chung về địa bàn Liên khu III, gồm có: cuốn Quân khu Ba - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp; cuốn Lịch sử kháng chiến chống Pháp Khu Tả ngạn sông Hồng 1945-1955; cuốn Mấy vấn đề lớn ở Khu Tả ngạn sông Hồng trong kháng chiến chống Pháp 1945-1955; cuốn Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Liên khu III (1945-1955); cuốn Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946-1954) do PGS, TS Vũ Quang Hiển chủ biên; đề tài nghiên cứu cấp bộ Vai trò của Liên khu uỷ III trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và trong những năm đầu xây dựng, củng cố miền Bắc do TS Nguyễn Quý làm chủ nhiệm.

Nhóm thứ ba là các công trình lịch sử Đảng bộ và ban, ngành địa phương thuộc các tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Nam Định, Hà Tây, Hòa Bình, Hải Dương, Ninh Bình, Hải Hưng, Thái Bình, Hà Nội và Hà Nam.

Đánh giá khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ: các công trình đã công bố chủ yếu tập trung vào lĩnh vực quân sự, diễn biến các chiến dịch, hoạt động chiến tranh du kích và phong trào kháng chiến chung. Vấn đề xây dựng Đảng chỉ được phản ánh đơn lẻ, tản mạn mang tính chất minh họa. Quan điểm, sự lãnh đạo cụ thể của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công tác xây dựng Đảng ở Liên khu III hầu như chưa được phân tích sâu. Các hạn chế, khuyết điểm cũng như hệ thống bài học kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III chưa được tổng kết thành một công trình khoa học chuyên biệt. Đây chính là khoảng trống lịch sử mà luận án tập trung giải quyết.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, đề tài vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác xây dựng Đảng.

Nguồn tài liệu thực tế của luận án được khai thác từ các nguồn:

  • Các văn kiện gốc của Đảng gồm nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc; các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Ban Thường vụ Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Liên khu ủy III và các Tỉnh ủy, Thành ủy lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Phòng Tư liệu Viện Lịch sử Đảng hoặc đã công bố trong Văn kiện Đảng toàn tập.
  • Báo cáo tổng kết của Trung ương, Liên khu ủy III, các cấp ủy và ủy ban kháng chiến hành chính địa phương.
  • Các công trình lịch sử Đảng bộ địa phương, hồi ký của các nhân chứng lịch sử liên quan đến đề tài.
  • Các bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ và lãnh đạo Liên khu III thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là chủ yếu. Trong đó, Chương 1 và Chương 2 sử dụng phương pháp lịch sử để tái hiện tiến trình cụ thể theo thời gian; Chương 3 sử dụng phương pháp lôgíc để phân tích, đánh giá thành tựu, hạn chế và đúc kết kinh nghiệm. Ngoài ra, luận án kết hợp các phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, phê phán sử liệu và phương pháp đặc thù của khoa học lịch sử Đảng là lấy tài liệu gốc của Đảng đối chiếu với các sự kiện, nhân vật lịch sử trong thực tiễn, kết hợp khảo sát thực tế tại các địa phương trên địa bàn Liên khu III trước đây.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo kháng chiến trong tình hình mới (2/1948 - 5/1952)

Chương 1 trình bày bối cảnh ra đời, các yếu tố tác động, chủ trương của cấp trên và quá trình triển khai công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ tháng 2-1948 đến tháng 5-1952. Đầu tháng 2-1948, Liên khu III được thành lập trên cơ sở sáp nhập Khu II, Khu III và Khu XI theo Nghị quyết ngày 20-1-1948 của Trung ương Đảng và Sắc lệnh số 120-SL ngày 25-1-1948 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ban Thường vụ Liên khu ủy ban đầu gồm đồng chí Nguyễn Văn Trân làm Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - Hành chính, đồng chí Lê Thanh Nghị làm Phó Bí thư, cùng các ủy viên thường vụ Lê Quang Hòa, Nguyễn Văn Lộc; sau đó bổ sung thêm các đồng chí: Lê Quang Đạo, Trần Quang Bình, Văn Tiến Dũng, Đỗ Mười, Vũ Oanh, Đặng Tính, Nguyễn Khai. Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Liên khu thành lập ngày 10-2-1948 gồm 5 ủy viên. Quân khu ủy III gồm các đồng chí Hoàng Sâm (Khu trưởng), Hoàng Minh Thảo (Khu phó), Lê Quang Hòa (Bí thư, Chính trị ủy viên) và đồng chí Loan (tức Hải).

Về các yếu tố đặc thù, Liên khu III có diện tích 16.000 km2, mật độ dân cư đồng bằng Bắc Bộ ghi nhận từ đầu năm 1931 đạt từ 406 đến 430 người/km2. Khu vực Tả ngạn sông Hồng có trên 3 triệu dân, trong đó nông dân chiếm 90%, công nhân dưới 10%. Địa bàn có vùng đồng bào Công giáo tập trung tại Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên; có đồng bào dân tộc thiểu số tại Hòa Bình (7 dân tộc), Ninh Bình (6 dân tộc), người Mường ở Hòa Bình, Hà Đông, Sơn Tây. Về thực trạng trước tháng 2-1948, tính đến tháng 3-1945, toàn bộ các tỉnh Tả ngạn sông Hồng chỉ có 102 đảng viên; Hà Nội trước Tổng khởi nghĩa có 50 đảng viên. Đến cuối năm 1947, Đảng bộ Khu III có 9.000 đảng viên (tăng gấp 5 lần so với thời kỳ khởi nghĩa) với 1.500 cán bộ; Khu II có 1.400 cán bộ.

Về chủ trương của Trung ương: Hội nghị Trung ương mở rộng (tháng 1-1948), Hội nghị Cán bộ Trung ương lần IV (tháng 5-1948) và Chỉ thị ngày 1-6-1948 phát động thi đua xây dựng Đảng trong 5 tháng (đối với cấp huyện: tăng 30% đảng viên trên quy mô 1.000 đảng viên, 20% chi bộ đạt tự động, huấn luyện 100% đảng viên). Hội nghị Cán bộ Trung ương lần V (tháng 8-1948) đề ra phương châm củng cố đi đôi với phát triển. Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng (tháng 1 và 2-1950) xác định phương châm "củng cố nặng hơn phát triển, chất lượng phải trọng hơn số lượng", kèm theo Nghị quyết ngày 1-5-1950 về vận động đào tạo cán bộ, học tập lý luận. Ngày 14-9-1950, Ban Thường vụ Trung ương ban hành Chỉ thị tạm ngừng kết nạp đảng viên mới trong toàn quốc để củng cố nội bộ. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tháng 2-1951) quyết định Đảng ra hoạt động công khai lấy tên Đảng Lao động Việt Nam, bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 29 đồng chí (19 chính thức, 10 dự khuyết). Điều lệ Đảng quy định chi bộ xí nghiệp không quá 70 đảng viên, chi bộ xã hoặc khu phố không quá 50 đảng viên. Tiếp đó, Ban Bí thư ra Chỉ thị ngày 29-12-1951 và Ban Tổ chức Trung ương gửi công điện tháng 1-1952 hướng dẫn việc chỉnh huấn cán bộ và chỉnh đốn chi bộ nông thôn.

Về quá trình thực hiện tại Liên khu III: Đảng bộ ban hành Đề cương "Chính sách và chủ trương trong Liên khu năm 1948" tại Hội nghị cán bộ lần I (tháng 4-1948); triệu tập Hội nghị đại biểu Liên khu lần I (tháng 7-1948) bầu Ban Chấp hành gồm 15 đồng chí; tổ chức Hội nghị đại biểu lần II (tháng 7-1949) và Hội nghị cán bộ (tháng 3-1950). Tháng 8-1950, Phân khu ủy Tả ngạn được thành lập do đồng chí Lê Thanh Nghị phụ trách. Tháng 10-1951, Đảng bộ Liên khu III ra mắt công khai với đại diện gồm các đồng chí Lê Thanh Nghị, Văn Tiến Dũng, Vũ Thơ và đồng chí Dần. Ngày 7-11-1951, Liên khu ủy thành lập Ban Cán sự Tả ngạn do đồng chí Đỗ Mười làm Bí thư.

Công tác giáo dục tư tưởng được đẩy mạnh qua việc học tập các tài liệu: Kháng chiến nhất định thắng lợi, Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ, Sửa đổi lối làm việc. Chỉ thị ngày 2-12-1950 của Liên khu ủy quy định học tập Tạp chí Cộng sản, Báo Sự thật và Nội san Tinh thần mới. Đi kèm với xây dựng Đảng, Liên khu ủy lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế và quân sự.

Các số liệu cụ thể được phản ánh trong Chương 1 được tổng hợp qua bảng dưới đây:

Phương diện công tác Thời gian Số liệu, dữ kiện cụ thể ghi nhận trong văn bản
Số lượng đảng viên Tả ngạn sông Hồng Tháng 3-1945 102 đảng viên
Số lượng đảng viên Đảng bộ Hà Nội Trước Tổng khởi nghĩa 50 đảng viên
Số lượng đảng viên và cán bộ Khu III Cuối năm 1947 9.000 đảng viên, 1.500 cán bộ
Mở lớp huấn luyện đảng viên và cán bộ 5 tháng đầu năm 1948 Mở 674 lớp cho 19.653 đảng viên mới; 105 lớp cho 2.785 chi ủy viên; 32 lớp cho 1.067 huyện ủy viên
Bồi dưỡng cán bộ, đảng viên 6 tháng đầu năm 1949 Trên 80.000 đảng viên cũ và mới tham gia bồi dưỡng
Cung cấp lương thực cho Trung ương và tỉnh bạn Năm 1948 Tỉnh Thái Bình cung cấp 5.816 tấn thóc
Sản lượng lúa toàn Liên khu Năm 1949 Đạt 221.050 tấn
Thu ngân sách và chính sách ruộng đất Cuối năm 1950 Thu trên 17.916 đồng Việt Nam và 80.000 đồng Đông Dương; giảm tô đạt 75%; tạm cấp 1.071 mẫu đất cho 844 gia đình (2.331 nhân khẩu)
Thiệt hại kinh tế gây ra cho địch Năm 1951 Quân dân Liên khu làm địch thiệt hại ước 2.000.000 đồng Đông Dương
Xây dựng lực lượng vũ trang Năm 1950 Mỗi tỉnh xây dựng 1 tiểu đoàn, mỗi huyện 1 đại đội, mỗi xã 1 trung đội
Kết quả chiến dịch Hòa Bình Đông - Xuân 1951-1952 Tiêu diệt 15.000 tên địch, bức hàng và bức rút hơn 1.000 đồn bốt, giải phóng 2.000.000 dân

Chương 2: Xây dựng Đảng bộ vững mạnh, đảm bảo lãnh đạo cuộc kháng chiến đến thắng lợi (5/1952 - 7/1954)

Chương 2 có bố cục gồm 2 tiết: Tiết 2.1 trình bày chủ trương mới của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng; Tiết 2.2 trình bày quá trình Đảng bộ Liên khu III tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức từ tháng 5-1952 đến tháng 7-1954.

Về bối cảnh và tổ chức bộ máy: Ngày 24-5-1952, Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TU tách 5 tỉnh Tả ngạn sông Hồng gồm Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên để thành lập Khu Tả ngạn sông Hồng. Liên khu III từ thời điểm này gồm 6 tỉnh Hữu ngạn: Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Ninh Bình và Hòa Bình. Hội nghị Liên khu ủy lần thứ 3 (từ ngày 20-5 đến ngày 2-6-1952) tiến hành phân công Ban Chấp hành gồm 15 người: đồng chí Lê Thanh Nghị làm Bí thư kiêm Chính ủy, đồng chí Hà Kế Tấn làm Phó Bí thư (sau đó đồng chí Đặng Tính thay thế), cùng các đồng chí Lê Thành, Lê Quốc Thân, Vũ Thơ, Nguyễn Văn Lộc tham gia ban chấp hành phụ trách các ban và các tỉnh.

Nội dung trọng tâm của chương là việc triển khai các chủ trương của Trung ương về cuộc vận động chấn chỉnh Đảng, trọng tâm là chỉnh huấn cán bộ và chỉnh đốn chi bộ nông thôn. Đảng bộ Liên khu tiến hành các lớp chỉnh huấn ngắn ngày cho cán bộ từ cấp liên khu, tỉnh đến huyện nhằm nâng cao nhận thức chính trị, kiên định tinh thần kháng chiến trường kỳ, củng cố kỷ luật và thực hiện phê bình, tự phê bình. Tiếp đó, các cấp bộ Đảng triển khai chỉnh đốn chi bộ nông thôn, chia tách các chi bộ quá đông đảng viên theo hạn mức Điều lệ mới, sắp xếp lại bộ máy lãnh đạo xã. Công tác tư tưởng và tổ chức trong giai đoạn này được gắn chặt với phong tràu sản xuất, thực hiện chính sách thuế nông nghiệp, chuẩn bị phát động quần chúng triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất, huy động nhân lực, vật lực phục vụ chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ cho đến khi ký Hiệp định Genève tháng 7-1954.

Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm

Chương 3 gồm 2 tiết: phần nhận xét (tiết 3.1) và phần một số kinh nghiệm (tiết 3.2, bắt đầu từ trang 128).

Về mặt ưu điểm, tác giả nhận xét Đảng bộ Liên khu III đã nắm vững và vận dụng sáng tạo các chủ trương của Trung ương Đảng vào thực tiễn địa phương; kịp thời phân chia phương thức lãnh đạo phù hợp với từng vùng (vùng tự do, khu du kích, căn cứ du kích và vùng địch tạm chiếm); phát triển tổ chức Đảng và lực lượng đảng viên rộng khắp; giữ vững vai trò hạt nhân lãnh đạo quân và dân Liên khu đánh bại âm mưu bình định của thực dân Pháp.

Về khuyết điểm, hạn chế, luận án chỉ rõ các thiếu sót trong văn bản:

  • Trong phát triển đảng viên, có thời kỳ nặng về số lượng, phát triển "ẩu", chưa chú trọng đúng mức đến tiêu chuẩn và chất lượng, kết nạp cả những thành phần phức tạp.
  • Công tác củng cố tổ chức không theo kịp tốc độ phát triển đảng viên; năng lực lãnh đạo của một số chi bộ xã còn yếu.
  • Đội ngũ cán bộ thiếu hụt nghiêm trọng, nhất là cán bộ lý luận, cán bộ chuyên môn và cán bộ công tác trong vùng địch kiểm soát.
  • Cơ cấu tổ chức, bộ máy chỉ đạo của Đảng bộ nhiều thời điểm xáo trộn, thiếu tính ổn định do biến động chiến trường và thay đổi địa giới hành chính.
  • Công tác tư tưởng ở một số thời điểm (như giai đoạn Thu - Đông 1949 đến đầu năm 1950) chưa kịp thời ngăn chặn các biểu hiện hoang mang, dao động, tư tưởng cầu an, thỏa hiệp, sợ gian khổ hoặc khuynh hướng chủ quan, nóng vội muốn kết thúc kháng chiến nhanh.

Về kinh nghiệm, luận án đúc kết các bài học gồm:

  • Thường xuyên coi trọng công tác xây dựng Đảng, xác định đúng đắn nhiệm vụ chính trị gắn liền với thực tiễn kháng chiến và kiến quốc.
  • Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, kiên định lập trường giai cấp công nhân, đề cao tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt nội bộ.
  • Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, chú trọng nâng cao chất lượng chi bộ tự động công tác và sắp xếp tổ chức phù hợp với địa bàn tác chiến.
  • Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ, chú trọng cán bộ xuất thân từ công nhân, nông dân, phụ nữ, đồng bào Công giáo và đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Gắn bó mật thiết với nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, đặc biệt chú ý công tác vận động quần chúng ở các vùng đặc thù (vùng đồng bào có đạo và vùng dân tộc ít người).

Kết quả và những đóng góp mới

Về tư liệu, luận án đã sưu tầm, tập hợp, thẩm định khối tư liệu gốc phong phú từ Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Phòng Tư liệu Viện Lịch sử Đảng và tài liệu tổng kết của các địa phương, trong đó công bố nhiều số liệu, chỉ thị và báo cáo chưa từng được hệ thống hóa trước đây về công tác xây dựng Đảng ở Liên khu III giai đoạn 1948 - 1954.

Về nội dung khoa học, công trình đã phục dựng bức tranh toàn diện, có hệ thống về quá trình lãnh đạo và triển khai công tác xây dựng Đảng trên ba mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức của Đảng bộ Liên khu III; làm rõ sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh; phân tích khách quan những ưu điểm, khuyết điểm lịch sử; đúc kết các bài học kinh nghiệm có ý nghĩa khoa học.

Về giải pháp và kiến nghị thực tiễn, luận án cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời đưa ra các căn cứ khoa học giúp các cấp ủy hiện nay tham khảo trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao chất lượng đảng viên, đổi mới phương thức lãnh đạo và củng cố tổ chức cơ sở đảng tại các địa bàn nông thôn, vùng đồng bào có đạo và vùng dân tộc thiểu số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài ở cấp bộ Đảng Liên khu III trong giai đoạn 1948 - 1954, luận án chưa thể đi sâu chi tiết vào diễn biến sinh hoạt và tổ chức nội bộ của từng chi bộ cấp xã hoặc tiểu tổ Đảng ở các vùng sâu, vùng xa, vùng tạm chiếm vốn chịu sự tàn phá nặng nề của chiến tranh dẫn đến nguồn tư liệu gốc bị thất lạc.

Về hướng nghiên cứu tiếp, các tác giả đi sau có thể:

  • Mở rộng so sánh đối chiếu công tác xây dựng Đảng giữa Liên khu III với các liên khu khác trong kháng chiến chống Pháp (như Liên khu IV, Liên khu V, Khu tự trị Tây Bắc).
  • Đi sâu nghiên cứu chuyên đề về phương thức xây dựng cơ sở Đảng bí mật trong các đô thị lớn bị địch tạm chiếm (Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định).
  • Khảo cứu chuyên sâu kinh nghiệm xây dựng tổ chức Đảng và vận động quần chúng trong vùng đồng bào Công giáo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở các tỉnh Hữu ngạn sông Hồng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Lịch sử Việt Nam. Công trình cũng cung cấp nguồn tư liệu phục vụ cán bộ làm công tác tổ chức, tuyên giáo và các cơ quan tham mưu của Đảng tại các địa phương thuộc địa bàn Liên khu III trước đây.

Các phần có giá trị tham khảo gồm:

  • Phần tổng quan tài liệu và hệ thống tư liệu văn kiện gốc lưu trữ về Đảng bộ Liên khu III.
  • Khung phân tích về mối quan hệ giữa biến động hành chính - quân sự với việc kiện toàn bộ máy cấp ủy và tổ chức cơ sở đảng.
  • Dữ liệu thực tế về các đợt huấn luyện cán bộ, đảng viên, chỉ số phát triển chi bộ tự động công tác và quy chế tổ chức học tập báo Đảng, nội san trong kháng chiến.
  • Hệ thống bài học kinh nghiệm về chỉnh đốn Đảng và xử lý tư tưởng cán bộ, đảng viên trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt.

Câu hỏi thường gặp

1. Địa bàn hành chính và phạm vi lãnh đạo của Đảng bộ Liên khu III có những biến động lớn nào trong giai đoạn 1948 - 1954?
Liên khu III thành lập đầu tháng 2-1948 gồm 11 tỉnh, thành phố: Hải Kiến, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Ninh Bình, Hòa Bình và Hà Nội. Tháng 12-1948, tỉnh Hải Kiến tách thành thành phố Hải Phòng và tỉnh Kiến An. Ngày 11-5-1949, Hà Nội tách thành Đặc khu trực thuộc Trung ương. Đến ngày 24-5-1952, Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TU tách 5 tỉnh phía Bắc sông Hồng (Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên) lập Khu Tả ngạn sông Hồng; từ đó đến tháng 7-1954, Đảng bộ Liên khu III lãnh đạo 6 tỉnh còn lại ở Hữu ngạn gồm Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Ninh Bình và Hòa Bình.

2. Trước khi thành lập Liên khu III (tháng 2-1948), quy mô đảng viên trên địa bàn này phát triển như thế nào?
Tính đến tháng 3-1945, toàn bộ các tỉnh Tả ngạn sông Hồng mới chỉ có 102 đảng viên. Đảng bộ Hà Nội trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 có 50 đảng viên. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, đến cuối năm 1947, số lượng đảng viên ở Khu III tăng gấp 5 lần so với thời kỳ khởi nghĩa, đạt 9.000 đảng viên và 1.500 cán bộ; Khu II có 1.400 cán bộ.

3. Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tháng 2-1951) quy định cụ thể ra sao về quy mô số lượng đảng viên trong chi bộ?
Điều lệ Đảng năm 1951 quy định: ở những xã, xí nghiệp hoặc khu phố có số đảng viên quá đông thì tùy theo đơn vị kinh tế, địa dư mà tổ chức ra nhiều chi bộ. Mỗi chi bộ xí nghiệp nhiều nhất không nên quá 70 đảng viên; mỗi chi bộ xã, khu phố nhiều nhất không nên quá 50 đảng viên. Trên các chi bộ này có ban chấp hành xí nghiệp, xã hoặc khu phố trực tiếp chỉ đạo.

4. Trong công tác giáo dục tư tưởng giai đoạn 1948 - 1949, Đảng bộ Liên khu III đã tổ chức các lớp huấn luyện với quy mô cụ thể nào?
Trong 5 tháng đầu năm 1948, toàn Liên khu mở được 674 lớp huấn luyện cho 19.653 đảng viên mới; 105 lớp cho 2.785 chi ủy viên và 32 lớp cho 1.067 huyện ủy viên. Sang 6 tháng đầu năm 1949, có trên 80.000 đảng viên cũ và mới từ cấp chi ủy viên đến tỉnh ủy viên của Liên khu được tham gia các lớp bồi dưỡng chính trị.

5. Những khuyết điểm, hạn chế chủ yếu trong công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III được văn bản chỉ ra là gì?
Văn bản nêu rõ các khuyết điểm: phát triển đảng viên có lúc chạy theo số lượng, phát triển "ẩu", công tác củng cố tổ chức không theo kịp đà phát triển; thiếu hụt cán bộ; bộ máy tổ chức thiếu tính ổn định; công tác giáo dục tư tưởng có thời điểm chưa ngăn chặn kịp thời hiện tượng cán bộ, đảng viên hoang mang, dao động, cầu an, sợ gian khổ hoặc nảy sinh tư tưởng chủ quan, nóng vội muốn kết thúc kháng chiến nhanh.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Xuân là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo, phục dựng có hệ thống tiến trình công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức từ năm 1948 đến năm 1954. Dựa trên nguồn tư liệu gốc của Đảng và các số liệu lưu trữ xác thực, công trình đã làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, vai trò chỉ đạo của Liên khu ủy III trong điều kiện chiến tranh chia cắt địa bàn, đồng thời phân tích khách quan các thành tựu lẫn hạn chế lịch sử. Các bài học kinh nghiệm được luận án tổng kết có giá trị khoa học thiết thực, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.