Tổng quan luận án
Công tác vận động quần chúng là một nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ bắt nguồn từ việc vận động nhân dân đóng góp nhân lực, vật lực tại hậu phương căn cứ địa. Cơ sở tư tưởng của công tác này là quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện qua luận điểm trong tác phẩm Đường cách mệnh (1927): "Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người" và phương châm: "Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công" (1949).
Địa bàn Việt Bắc giữ vị trí căn cứ địa đầu não, nơi đứng chân của các cơ quan lãnh đạo Trung ương Đảng và Nhà nước. Từ tháng 10-1946, Trung ương Đảng đã cử cán bộ lên xây dựng căn cứ địa tại Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang để hình thành An toàn khu (ATK). Vấn đề nghiên cứu lịch sử công tác dân vận của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc có khoảng trống khoa học rõ rệt: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận ở diện khái quát, trên các lĩnh vực kinh tế, quân sự riêng lẻ hoặc tại từng địa phương cụ thể, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống quá trình tổ chức chỉ đạo công tác dân vận của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung:
- Làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo thực hiện công tác dân vận của Trung ương Đảng và các Đảng bộ ở Liên khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
- Đúc rút những kinh nghiệm lịch sử phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách dân vận của Trung ương Đảng trong giai đoạn mới.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản cụ thể hóa thành năm nội dung:
- Hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn tài liệu, văn kiện của Đảng theo tiến trình thời gian gắn với công tác dân vận giai đoạn từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1954.
- Phân tích các yếu tố tác động đến công tác dân vận của Đảng ở Liên khu Việt Bắc.
- Làm sáng tỏ chủ trương và quá trình cụ thể hóa, tổ chức thực hiện công tác dân vận trên các lĩnh vực, đối với các giai tầng tại địa bàn Việt Bắc.
- Nhận xét những ưu điểm, thành công và hạn chế trong công tác dân vận của Đảng thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
- Đúc kết các kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn nhằm bổ sung, hoàn thiện chính sách dân vận của Đảng.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những quan điểm, chủ trương, chính sách và quá trình tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc trong giai đoạn từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1954. Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 10-1949 (thời điểm Liên khu Việt Bắc được thành lập) đến tháng 7-1954 (thời điểm ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp).
- Phạm vi nội dung: Các chủ trương, chính sách dân vận của Đảng và quá trình các Khu ủy, Liên khu ủy ở Việt Bắc tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác dân vận phục vụ kháng chiến.
- Phạm vi không gian: Bao gồm 17 tỉnh, đặc khu và 01 huyện thuộc Liên khu Việt Bắc: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Quảng Yên, Hải Ninh, đặc khu Hồng Gai và huyện Mai Đà (thuộc tỉnh Hòa Bình).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia thành bốn nhóm công trình nghiên cứu chính:
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn công tác dân vận của Đảng
Nhóm này gồm các tác phẩm phân tích đường lối vận động quần chúng:
- Cuốn sách Về công tác quần chúng và bài viết Đổi mới nội dung, phương thức vận động quần chúng của tác giả Nguyễn Văn Linh, khẳng định vai trò quyết định của công tác vận động quần chúng và nguyên tắc "lấy dân làm gốc".
- Bài viết Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của tác giả Đỗ Mười, chỉ rõ yêu cầu đổi mới công tác Mặt trận và các đoàn thể (công đoàn, thanh niên, phụ nữ, trí thức, dân tộc, tôn giáo).
- Các ấn phẩm của Ban Dân vận Trung ương: Về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất (quán triệt Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị), Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuốn sách Lý luận và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân vận gồm hơn 30 bài viết của các nhà lãnh đạo và nhà khoa học.
- Sách Chiến lược Đại đoàn kết Hồ Chí Minh của Phùng Hữu Phú; công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
- Bài viết của các tác giả: Dương Xuân Ngọc (Quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo tiến hành công tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh); Tòng Thị Phóng (75 năm công tác dân vận của Đảng); Trương Tấn Sang (Xây dựng mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân: Nhân tố quyết định sự vững mạnh của Đảng, làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam); Hà Thị Khiết (Một số bài học kinh nghiệm trong công tác dân vận của Đảng sau 25 năm đổi mới và Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động quần chúng trong tình hình mới); Đinh Thế Huynh (Đảng Cộng sản Việt Nam với công tác quần chúng - Thực tiễn và một số kinh nghiệm).
- Công trình Đổi mới công tác dân vận của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới của Tổng cục Chính trị.
Nhóm 2: Các công trình về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và công tác vận động quần chúng
- Các công trình lịch sử toàn diện: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1 của Ban Nghiên cứu Lịch sử quân sự - Tổng cục Chính trị; Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, (Sơ thảo), tập 1 của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương; Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập III: Đảng lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc (1945-1954) của Viện Lịch sử Đảng.
- Bộ sách Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) gồm 5 tập đã xuất bản của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (Tập I: Chuẩn bị Toàn quốc kháng chiến; Tập II: Toàn quốc kháng chiến; Tập III: Triển khai kháng chiến toàn diện; Tập IV: Bước ngoặt của cuộc kháng chiến; Tập V: Phát triển thế tiến công chiến lược).
- Bộ sách Lịch sử Việt Nam do Viện Sử học biên soạn (Nguyễn Văn Nhật chủ biên), gồm Tập 10 (Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1950) và Tập 11 (Lịch sử Việt Nam từ năm 1951 đến 1954).
- Các tác phẩm hồi ký, chuyên khảo quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những năm tháng không thể nào quên, Những chặng đường lịch sử, Đường tới Điện Biên Phủ; sách Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 - Một bước phát triển sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam của Lê Trọng Tấn.
- Các công trình tổng kết chiến tranh: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học và Chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975) - Thắng lợi và bài học của Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị; công trình Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975) của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam; cuốn sách 60 năm toàn quốc kháng chiến - Ký ức lịch sử và bài học kinh nghiệm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
- Các luận án, luận văn liên quan: Luận án tiến sĩ của Đào Trọng Cảng (Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc xây dựng các vùng tự do lớn trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp 1946-1954); Luận án phó tiến sĩ của Nguyễn Mạnh Hà (Chính sách chính trị, quân sự của Pháp ở Việt Nam trong giai đoạn 1945-1954 và nguyên nhân thất bại của chúng); Luận án tiến sĩ của Khuất Thị Hoa (Quá trình thực hiện chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954); Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Xuân (Đảng bộ Liên khu IV lãnh đạo xây dựng kinh tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954).
Nhóm 3: Các công trình của học giả, nhân chứng nước ngoài
- Phía Pháp: Tác phẩm của Henri Navarre (Đông Dương hấp hối, Thư gửi các chiến binh ở Đông Dương, Thời điểm của những sự thật); Joseph Laniel (Thảm họa Đông Dương từ Điện Biên Phủ đến cuộc đánh đổ ở Giơ-ve-vơ); Yves Gras (Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương 1945-1954); Jules Roy (Trận Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp); Jean Sainteny (Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ); Y. Tsuboi (Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa).
- Phía Mỹ: Cuốn sách Tại sao Việt Nam? của Archimedes L.A. Patti, sĩ quan tình báo OSS phản ánh giai đoạn 1945.
Nhóm 4: Các công trình về căn cứ địa, chiến trường và công tác dân vận tại Việt Bắc
- Các công trình của Ban Dân vận Trung ương: Lịch sử công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2010) và Sơ thảo lịch sử công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-1996).
- Bộ Tư lệnh Quân khu I: Tổng kết chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chiến lược quân sự của Liên khu Việt Bắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) (Tập I và Tập III về công tác hậu cần).
- Các luận án, luận văn chuyên sâu về địa bàn: Luận án phó tiến sĩ của Nguyễn Xuân Minh (An toàn khu Trung ương ở Việt Bắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954); Luận án tiến sĩ của Phan Thị Thoa (Hoạt động tài chính ở Liên khu Việt Bắc trong kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp 1945-1954); Luận án tiến sĩ của Âu Thị Hồng Thắm (Tỉnh Bắc Kạn trong Căn cứ địa Việt Bắc từ năm 1942 đến năm 1954); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Lan (Đảng bộ Liên khu Việt Bắc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng 1949-1956); Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Bích Ngọc (An toàn khu Định Hoá trong căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc).
- Các sách chuyên đề: Chiến tranh du kích trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) của Vũ Văn Ba; Một số trận đánh trên chiến trường Việt Bắc (1945-1954) của Cao Xuân Lịch; Việt Bắc chiến thắng của Sở Thông tin Chiến khu IV; 10 trận thắng lớn xuân hạ 1949 của Phòng Tuyên truyền Liên khu Việt Bắc; cuốn Việt Bắc 30 năm chiến tranh cách mạng (1945-1975) của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam; cuốn Hồ Chí Minh với việc xây dựng ATK Định Hoá trong căn cứ địa Việt Bắc (1947-1954) của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Nguyên; các bộ lịch sử Đảng bộ địa phương của 13 tỉnh thuộc địa bàn (Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Yên Bái).
Vị trí của luận án: Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu khi trở thành công trình chuyên khảo hệ thống hóa, phục dựng toàn diện sự lãnh đạo của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc đối với công tác dân vận từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1954 dưới góc nhìn lịch sử Đảng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin, hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân và công tác dân vận, cùng các nghị quyết, chỉ thị, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu bao gồm:
- Hai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc.
- Phương pháp liên ngành, kết hợp phân tích, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn và đúc rút kinh nghiệm.
- Phương pháp phê phán sử liệu: sử dụng các văn bản nghị quyết, chỉ thị gốc của Trung ương và cấp ủy địa phương làm cơ sở đối chiếu với các sự kiện, nhân vật lịch sử.
- Phương pháp khảo sát điền dã: Khảo sát thực tế tại các di tích lịch sử cách mạng, bảo tàng các dân tộc Việt Bắc, bảo tàng chiến tranh tại các tỉnh miền núi phía Bắc, bao gồm: tỉnh Cao Bằng, huyện Na Rì và Chợ Đồn (Bắc Kạn), huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn), ATK Định Hóa và huyện Đại Từ (Thái Nguyên), huyện Sơn Dương và Chiêm Hóa (Tuyên Quang), tỉnh Lào Cai, tỉnh Bắc Giang, huyện Từ Sơn (Bắc Ninh), huyện Đoan Hùng (Phú Thọ).
- Phương pháp phỏng vấn nhân chứng lịch sử: Phỏng vấn các cựu chiến binh tham gia kháng chiến chống Pháp tại Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Ninh; trao đổi học thuật với các chuyên gia nghiên cứu tại Ban Dân vận Trung ương, Viện Lịch sử Đảng, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.
Nguồn tư liệu khai thác gồm:
- Tài liệu lưu trữ gốc tại: Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phòng Tư liệu Viện Lịch sử Đảng, Thư viện Quốc gia Việt Nam.
- Văn kiện, chỉ thị, nghị quyết, báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương, Khu ủy, Liên Khu ủy và Tỉnh ủy.
- Sách, báo cáo tổng kết, kỷ yếu hội thảo, hồi ký của các cán bộ lão thành cách mạng và tài liệu của các tác giả nước ngoài.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chương 1 tiến hành phân loại và điểm luận 4 nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về công tác dân vận, cuộc kháng chiến chống Pháp và căn cứ địa Việt Bắc. Tác giả chỉ rõ những kết quả mà các nghiên cứu trước đã đạt được về mặt lý luận chung và bối cảnh chiến trường; đồng thời xác lập các nhiệm vụ khoa học mà luận án tập trung giải quyết: hệ thống hóa tư liệu lịch sử từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1954; phân tích các yếu tố tác động và đường lối của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc; đánh giá ưu điểm, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm.
Chương 2: Công tác dân vận của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1952
Chương 2 trình bày các yếu tố tự nhiên, xã hội tác động đến công tác dân vận tại Việt Bắc và sự lãnh đạo của Đảng bộ các Khu, Liên khu từ năm 1946 đến năm 1952.
- Địa bàn Việt Bắc theo định nghĩa trong tài liệu Kinh nghiệm Việt Minh ở Việt Bắc (tháng 2-1944) là vùng trung du và thượng du Bắc Kỳ có địa thế hiểm trở, núi rừng chiếm 90% diện tích, mật độ sông suối dày đặc, đồng bào đa phần là các dân tộc thiểu số.
- Các mốc lịch sử thành lập tổ chức quần chúng năm 1946: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (27-5-1946), Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam - Hội Liên Việt (29-5-1946), Đảng Xã hội Việt Nam (tháng 7-1946), Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20-10-1946); Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng (31-7 đến 1-8-1946) quyết định thành lập Ban Công vận toàn quốc.
- Bối cảnh toàn quốc kháng chiến: Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng ngày 18 và 19-12-1946 tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, quyết định phát động toàn quốc kháng chiến vào 20 giờ ngày 19-12-1946; Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến phát đi ngày 20-12-1946 tại Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Đông); tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng Bí thư Trường Chinh (tháng 3-1947).
- Cuộc tổng di chuyển cơ quan Trung ương lên căn cứ địa Việt Bắc diễn ra từ tháng 10-1946 đến tháng 5-1947.
- Ngày 15-10-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo Dân vận trên báo Sự thật (số 120), xác định rõ 4 nội dung: tiền đề cơ sở công tác dân vận; khái niệm dân vận; lực lượng phụ trách dân vận ("Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân"); phương pháp dân vận gồm 12 chữ: "óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm".
Về chỉ đạo cụ thể tại các Khu trước khi sáp nhập:
- Khu uỷ I (gồm Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phúc Yên): Ra Chỉ thị ngày 15-10-1947 vận động nhân dân làm "vườn không nhà trống", tăng gia sản xuất, tổ chức Đoàn Ca kịch Việt Bắc biểu diễn chèo, cải lương tuyên truyền; xuất bản 2 tờ báo là Việt Bắc Quyết chiến (tuần báo của Phòng Chính trị - Bộ Chỉ huy Vệ quốc Đoàn Khu I) và Ánh sáng (tuần báo của Khu bộ Việt Minh Khu I).
- Khu uỷ X (gồm Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên): Ra Nghị quyết Hội nghị ngày 28-4-1947 về công tác Vùng dân tộc thiểu số (cấp phát thuốc men, bán muối giá rẻ, đề nghị xóa thuế ở các làng Quang Huy, Thu Cúc bị địch tàn phá); tổ chức Hội nghị Cán bộ Cứu quốc Hội toàn khu (19 đến 22-9-1947); Hội nghị ngày 11-11-1947 thành lập Hội Văn hóa kháng chiến; ra Nghị quyết số 486 ngày 28-12-1947 thành lập Ban Vận động Dân tộc miền núi và mở Trường Trung học miền núi.
- Khu uỷ XII (gồm Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Ninh, Quảng Yên, Hồng Gai): Tập hợp quần chúng vào các đoàn thể Cứu quốc và Hội Liên Việt, đẩy mạnh công tác tiễu phỉ và tuyên truyền kháng chiến.
- Khu uỷ XIV (thành lập tháng 7-1947, gồm Sơn La, Lai Châu, một phần Phú Thọ và huyện Mai Đà của Hòa Bình): Tổ chức bộ máy dân vận vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc.
Số liệu hội viên Mặt trận Việt Minh tại các tỉnh và các giới thuộc Khu XII (theo Nghị quyết Hội nghị Cán bộ Khu uỷ XII lần thứ 2):
| Phân loại theo tỉnh |
Số lượng hội viên |
Phân loại theo giới |
Số lượng hội viên |
| Tỉnh Bắc Ninh |
45.064 |
Giới Thanh niên |
48.210 |
| Tỉnh Bắc Giang |
67.509 |
Giới Nông dân |
43.615 |
| Tỉnh Lạng Sơn |
72.674 |
Giới Phụ nữ |
39.400 |
|
|
Giới Thiếu nhi |
33.502 |
|
|
Giới Phụ lão |
18.520 |
Ngày 20-1-1948, 4 khu được sáp nhập thành Liên khu I và Liên khu X. Đến tháng 10-1949, Liên khu Việt Bắc được thành lập trên cơ sở hợp nhất Liên khu I và Liên khu X, thống nhất chỉ đạo công tác dân vận trên toàn địa bàn.
Chương 3: Đảng bộ Liên khu Việt Bắc lãnh đạo thực hiện công tác dân vận từ tháng 7-1952 đến tháng 7-1954
Chương 3 trình bày những chủ trương mới của Trung ương Đảng và quá trình Đảng bộ Liên khu Việt Bắc lãnh đạo thực hiện công tác dân vận trong giai đoạn đẩy mạnh phản công đến khi kết thúc kháng chiến. Nội dung tập trung vào:
- Quán triệt các chủ trương của Trung ương Đảng về động viên nhân lực, vật lực phục vụ các chiến dịch lớn, trọng tâm là Chiến dịch Tây Bắc (1952), Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ.
- Chỉ đạo công tác vận động nông dân thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, thực hiện chính sách giảm tô, giảm tức và chuẩn bị cải cách ruộng đất theo đường lối của Đảng.
- Vận động đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào tôn giáo tích cực tham gia dân công hỏa tuyến, vận chuyển lương thực, vũ khí qua địa hình đèo dốc hiểm trở; củng cố khối đoàn kết toàn dân chống âm mưu chia rẽ dân tộc của thực dân Pháp.
Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm
Chương 4 tổng kết các đánh giá khoa học và đúc rút bài học lịch sử:
- Nhận xét ưu điểm: Đảng bộ Liên khu Việt Bắc đã quán triệt sâu sắc đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Trung ương Đảng và tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh; tập hợp được đông đảo các giai tầng, đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo tham gia kháng chiến; xây dựng vững chắc hậu phương - căn cứ địa ATK; bảo đảm huy động sức người, sức của phục vụ các chiến dịch quân sự.
- Hạn chế: Bộ máy làm công tác dân vận ở một số cấp ban đầu thiếu chặt chẽ; việc chỉ đạo phong trào ở vùng sâu, vùng xa đồng bào dân tộc thiểu số có lúc chưa kịp thời; công tác phát hành báo chí, tài liệu lý luận (báo Sự thật, Cứu quốc) xuống cơ sở còn gặp khó khăn do giao thông hiểm trở.
- Kinh nghiệm chủ yếu: Luận án đúc kết các bài học về giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận; kết hợp chặt chẽ giữa vận động chính trị với chăm lo đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân; đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ dân vận là người dân tộc thiểu số; phát huy vai trò của Mặt trận Dân tộc thống nhất và các đoàn thể cứu quốc.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt khoa học lịch sử: Luận án tái hiện một cách toàn diện và có hệ thống quá trình Đảng bộ Liên khu Việt Bắc tổ chức, lãnh đạo thực hiện công tác dân vận trong toàn bộ giai đoạn từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1954.
- Về mặt đánh giá thực tiễn: Luận án đưa ra những nhận định khách quan về các thành tựu, chỉ rõ các mặt hạn chế cùng nguyên nhân của công tác dân vận trong điều kiện kháng chiến tại vùng căn cứ địa miền núi.
- Về mặt kinh nghiệm lịch sử: Đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn, đóng góp luận cứ khoa học cho công tác xây dựng Đảng và đổi mới phương thức dân vận hiện nay.
- Về mặt tư liệu và đề xuất: Bổ sung nguồn tư liệu lịch sử phong phú cho công tác nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với Đảng và Nhà nước về chính sách chăm lo, cải thiện đời sống kinh tế, văn hóa cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại khu vực căn cứ địa cách mạng miền núi phía Bắc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khung thời gian từ tháng 10-1949 (thành lập Liên khu Việt Bắc) đến tháng 7-1954 (kết thúc kháng chiến chống Pháp) trên không gian địa bàn Liên khu Việt Bắc gồm 17 tỉnh, đặc khu và 1 huyện. Do đó, công trình không bao quát toàn bộ tiến trình lịch sử công tác dân vận trên các chiến trường và liên khu khác trong cả nước.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh về công tác dân vận giữa các liên khu kháng chiến (như Liên khu IV, Liên khu V, Nam Bộ) hoặc tiếp tục nghiên cứu công tác dân vận của Đảng bộ các tỉnh miền núi phía Bắc trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước và thời kỳ đổi mới.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Công trình là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Xây dựng Đảng và Quản lý Nhà nước.
- Giá trị thực tiễn: Cung cấp cơ sở tư liệu cho cán bộ làm công tác dân vận, Ban Dân vận các cấp, cơ quan Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc nghiên cứu phương pháp tập hợp quần chúng, vận động đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo.
- Phần đáng tham khảo: Hệ thống hóa tư liệu lịch sử lưu trữ, phương pháp tiếp cận điền dã di tích, số liệu thống kê tổ chức hội viên các khu và các bài học kinh nghiệm lịch sử được tổng kết tại Chương 2 và Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Phạm vi không gian và thời gian của luận án được giới hạn như thế nào?
Luận án nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ tháng 10-1949 (khi Liên khu Việt Bắc được thành lập) đến tháng 7-1954 (khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp). Không gian nghiên cứu gồm 17 tỉnh, đặc khu và 01 huyện thuộc Liên khu Việt Bắc: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Quảng Yên, Hải Ninh, đặc khu Hồng Gai và huyện Mai Đà (tỉnh Hòa Bình).
2. Bốn nội dung cốt lõi của tác phẩm "Dân vận" (15-10-1949) được luận án trích dẫn là gì?
Bốn vấn đề căn bản được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong bài báo Dân vận gồm:
- Tiền đề, cơ sở của công tác dân vận.
- Dân vận là gì (vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân).
- Ai phụ trách dân vận (tất cả cán bộ chính quyền, cán bộ đoàn thể và hội viên các tổ chức nhân dân).
- Dân vận phải thế nào (thực hiện theo phương châm 12 chữ: "óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm").
3. Tác giả luận án đã sử dụng những nguồn tài liệu lưu trữ gốc nào?
Nguồn tài liệu gốc được khai thác trực tiếp tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phòng Tư liệu Viện Lịch sử Đảng và Thư viện Quốc gia Việt Nam, kết hợp cùng các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Khu ủy, Tỉnh ủy và các tài liệu điền dã, phỏng vấn nhân chứng.
4. Trước khi hợp nhất thành Liên khu Việt Bắc vào tháng 10-1949, địa bàn gồm những phân khu nào?
Địa bàn gồm 4 khu: Khu I (thành lập 11-1946), Khu X, Khu XII và Khu XIV (thành lập 7-1947). Đến ngày 20-1-1948, 4 khu này được sáp nhập thành 2 liên khu là Liên khu I và Liên khu X, trước khi chính thức hợp nhất thành Liên khu Việt Bắc vào tháng 10-1949.
5. Đóng góp khoa học lớn nhất của luận án là gì?
Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên tái hiện một cách có hệ thống, toàn diện quá trình Đảng bộ Liên khu Việt Bắc lãnh đạo công tác dân vận từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1954 dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng, đồng thời đúc kết các bài học kinh nghiệm cho công tác dân vận hiện nay.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Công tác dân vận của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1954" là một công trình nghiên cứu lịch sử Đảng được thực hiện công phu, dựa trên nguồn sử liệu lưu trữ phong phú và phương pháp nghiên cứu liên ngành chặt chẽ. Tác phẩm đã phục dựng bức tranh toàn diện về quá trình vận động, tập hợp sức mạnh của nhân dân các dân tộc vùng căn cứ địa Việt Bắc phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp. Các kết quả nghiên cứu và bài học kinh nghiệm được rút ra trong luận án có giá trị khoa học lịch sử sâu sắc và ý nghĩa tham khảo thiết thực cho công tác dân vận của Đảng trong giai đoạn hiện nay.