Chương 1 XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, TỔ CHỨC, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN TRONG TÌNH HÌNH MỚI (2/1948 - 5/1952) 1. TÌNH HÌNH XÂY DỰNG ĐẢNG TRÊN ĐỊA BÀN LIÊN KHU III TRƯỚC THÁNG 2-1948 VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG, CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG 1. Sự ra đời của Đảng bộ Liên khu III Đầu năm 1948, thực dân Pháp đẩy mạnh thực hiện chính sách bình định, các địa bàn kháng chiến của ta bị chia cắt. Để điều hành hiệu quả cuộc kháng chiến, Trung ương Đảng và Chính phủ chủ trương tổ chức lại các Khu trong cả nước.
Thực hiện nghị quyết thống nhất Khu Bắc Bộ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 20-1-1948 và Sắc lệnh số 120-SL ngày 25-1-1948 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đầu tháng 2-1948, Liên khu III được thành lập, trên cơ sở sáp nhập Khu II, Khu III và Khu XI. Địa bàn Liên khu III gồm 11 tỉnh, thành phố: Hải Kiến, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Ninh Bình, Hòa Bình và Hà Nội. (Trước đó, từ tháng 10-1945 đến trước tháng 1-1948, các tỉnh Liên khu III thuộc Chiến khu II, Chiến khu III và Chiến khu XI. Từ tháng 11- 1946, theo chủ trương của Trung ương, các Chiến khu đổi thành các Khu).
Liên khu III là một tổ chức hành chính - quân sự, hoạt động tương đối độc lập. Ngay sau khi Liên khu III được thành lập, để kịp thời lãnh đạo, điều hành quân và dân Liên khu kháng chiến, Trung ương Đảng chỉ định Ban Thường vụ Liên khu ủy gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Trân làm Bí thư Liên khu ủy, kiêm chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Liên khu; 19 đồng chí Lê Thanh Nghị làm Phó Bí thư; Lê Quang Hòa, Nguyễn Văn Lộc là Ủy viên Thường vụ [111, tr.142] Sau đó, trong năm 1948, 1949, Trung ương bổ sung thêm các Ủy viên Thường vụ: Lê Quang Đạo: Trần Quang Bình, Văn Tiến Dũng, Đỗ Mười , Vũ Oanh, Đặng Tính, Nguyễn Khai. Quân khu ủy III gồm đồng chí Hoàng Sâm (Khu trưởng), Hoàng Minh Thảo (Khu phó), Lê Quang Hòa (Bí thư, Chính trị ủy viên) và đồng chí Loan (tức Hải, Chính trị ủy viên) [83]. Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Liên khu được thành lập vào ngày 10-2-1948, gồm 5 ủy viên [130, tr.
Liên khu ủy III đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo các địa phương trên địa bàn thực hiện nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc theo chủ trương của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tháng 12-1948, tỉnh Hải Kiến tách thành thành phố Hải Phòng và tỉnh Kiến An. Ngày 11-5-1949, Hà Nội tách khỏi Liên khu III thành Đặc khu, do Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo. Trước tình hình các tỉnh Tả ngạn bị chiếm đóng, cô lập, để lãnh đạo, điều hành kháng chiến thành công, ngày 24-5-1952, Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 08/NQ-TU tách 5 tỉnh phía Bắc sông Hồng của Liên khu III gồm Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên thành lập Khu Tả ngạn sông Hồng.
Liên khu III từ thời điểm đó đến khi kết thúc cuộc kháng chiến gồm 6 tỉnh, thành phố còn lại ở Hữu ngạn sông Hồng là Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Sơn Tây và Hòa Bình, do Liên khu ủy III lãnh đạo. 20 Theo sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Hội nghị Liên khu ủy lần thứ 3 họp từ ngày 20-5 đến 2-6-1952, ra nghị quyết về tổ chức, phân công nhiệm vụ cho các đồng chí tham gia Ban Chấp hành Liên khu uỷ. Ban Chấp hành Liên khu lúc này gồm 15 người, trong đó có các đồng chí: Lê Thanh Nghị, Lê Thành, Lê Quốc Thân, Hà Kế Tấn, Vũ Thơ, Nguyễn Văn Lộc…; Lê Thanh Nghị làm Bí thư kiêm Chính ủy; Hà Kế Tấn làm Phó Bí thư (sau đó đồng chí Đặng Tính thay) [111, tr. Liên khu ủy chỉ định các đồng chí phụ trách các Ban Dân vận, Nông vận, Tuyên huấn… và phụ trách các tỉnh trong Liên khu.
Những yếu tố tác động đến công tác xây dựng Đảng ở Liên khu III 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Liên khu III - trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ, là vùng đất đai rộng lớn với điện tích 16. Đây là vùng đất có vị trí địa lý quan trọng: phía Đông giáp biển, phía Bắc giáp Chiến khu Việt Bắc, phía Tây giáp Chiến khu Tây Bắc, phía Nam giáp vùng tự do rộng lớn Khu IV. Vì vậy, Liên khu có điều kiện thuận lợi trong việc liên lạc, nhận sự hỗ trợ cũng như phối hợp các hoạt động với các vùng căn cứ địa, chiến khu và vùng tự do Khu IV.
Nằm ở trung tâm vùng châu thổ sông Hồng, với mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, đất đai phì nhiêu, màu mỡ, Liên khu không chỉ có điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp phục vụ kháng chiến mà còn rất thuận lợi trong giao thông, liên lạc, chuyên chở hàng hóa, vũ khí, đạn dược và cơ động quân trong chiến đấu. Theo đường sông, từ Hải Phòng, Thái Bình có thể dễ dàng tiến sâu vào vùng đồng bằng, lên Hà Nội, qua Phả Lại, Việt Trì và lên Việt Bắc qua sông Lô. 21 Bên cạnh những thuận lợi, địa bàn Liên khu cũng là nơi thường xảy ra bão lụt, hạn hán. Sự khắc nghiệt đó đòi hỏi cư dân nơi đây phải cố kết, đồng cam, cộng khổ, nhanh nhạy để khai thác những ưu đãi mà thiên nhiên ban tặng; cũng như để đấu tranh chống lại sự đe dọa của tự nhiên.
Điều này đã tác động đến việc sớm hình thành và phát triển ý thức cộng đồng, ý chí, nghị lực của mỗi người dân. Do những thuận lợi của điều kiện tự nhiên, cư dân trên địa bàn Liên khu rất đông đúc. Đầu năm 1931, đồng bằng Bắc Bộ có 6.000 người, mật độ dân cư từ 406 đến 430 người/ km 2 , là nơi có mật độ dân số cao nhất so với đồng bằng Thanh - Nghệ - Tĩnh, duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng Nam Bộ [125, tr. Địa bàn Liên khu có đặc điểm khác nhau: vùng nông thôn đồng bằng chiếm phần lớn diện tích, bao gồm các tỉnh Kiến An, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên và một phần các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây (nay là Hà Nội mở rộng), Ninh Bình, Nam Định với trên 900.16] đất nông nghiệp; các trung tâm đô thị lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, các thị xã.
Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước. Hải Phòng là trung tâm công nghiệp, thương mại, có cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, là đầu mối giao thông quan trọng, nơi giao lưu giữa Việt Nam với quốc tế. Sau thành phố Hà Nội và Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương là những đô thị quan trọng, có công thương nghiệp tương đối phát triển, nằm trên tuyến đường huyết mạch nối hai thành phố lớn nhất miền Bắc là Hải Phòng, Hà Nội. Nam Định nằm giữa các tỉnh Hữu ngạn sông Hồng, là trung tâm công nghiệp dệt lớn nhất Bắc Bộ và Đông Dương.
Vùng ven biển, hải đảo trải dài theo bờ biển các tỉnh Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình. Ngoài khơi có nhiều đảo và quần đảo như Bạch Long Vĩ, Long Châu, Cát Bà, Cát Hải… Đặc điểm này 22 không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn là điều kiện thuận lợi cho các hoạt động quân sự của cả hai bên. Với những đặc điểm trên, Liên khu III có điều kiện đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, phát động cuộc chiến tranh nhân dân; phát triển tổ chức Đảng và đảng viên. Tuy nhiên, đó cũng là những yếu tố quan trọng khiến Liên khu III sớm trở thành mục tiêu đánh chiếm, bình định của thực dân Pháp nhằm thực hiện âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, “dùng người Việt đánh người Việt”.
Do sản xuất nông nghiệp là chủ đạo nên đa số cư dân trong vùng là nông dân. Trong hơn ba triệu dân sinh sống ở Tả ngạn sông Hồng thời kỳ kháng chiến, nông dân chiếm 90%, công nhân dưới 10% [130, tr.20], còn lại là các tầng lớp tiểu tư sản, tư sản và địa chủ. Cư dân được tổ chức thành làng xã với tính bền chặt, gắn bó về kinh tế, văn hóa. Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến lối sống, tính cách của cư dân Liên khu nói chung và của cán bộ, đảng viên địa phương thời kỳ kháng chiến nói riêng.
Vùng cư trú với đặc điểm, phong tục, tập quán, thành phần giai cấp khác nhau, đã tạo nên những nét riêng của cư dân mỗi vùng. Các cấp bộ Đảng cần căn cứ vào đặc điểm cư dân từng vùng, từng giai cấp để đưa ra những chủ trương, phương thức, kế hoạch, biện pháp xây dựng, phát triển Đảng phù hợp. Địa bàn Liên khu có mạng lưới giao thông thủy, bộ khá phát triển. Hệ thống đường bộ phát triển theo các trục Đông - Tây Bắc, Bắc - Nam, Tây Bắc - Đông Nam, đảm bảo giao thông, liên lạc từ Hà Nội đến từng tỉnh lỵ, huyện lỵ; có đường số 1 chạy dọc theo chiều dài đất nước chạy qua; đặc biệt, có đường số 5, đường sắt nối Hà Nội với Hải Phòng.
Đây là hai con đường huyết mạch có ý nghĩa chiến lược đối với toàn vùng Đông Bắc Liên khu. Ngoài ra, Liên khu còn có đường hàng không; có sân bay Cát Bi, Kiến 23 An, Đồ Sơn, Bạch Mai, Gia Lâm. Đồng thời, những thành thị lớn, cảng biển, đường giao thông cho phép Liên khu đẩy mạnh các hoạt động thương nghiệp giữa các địa phương trên địa bàn với các địa phương trong nước, ngoài nước. Yếu tố này vừa tạo điều kiện cho các địa phương trong Liên khu đi lại, vận chuyển, cơ động chiến đấu, vừa là địa bàn thuận lợi cho việc thực hiện âm mưu bình định của thực dân Pháp.
Vùng đất Liên khu còn là nơi tập trung nhiều nông dân giỏi, công nhân tay nghề cao, thợ thủ công truyền thống. Các yếu tố trên tạo điều kiện thuận lợi cho Liên khu xây dựng nền kinh tế tự cấp, tự túc; tự sản xuất một phần vũ khí để cung cấp cho bộ đội chiến đấu; đồng thời tạo nên sự sáng tạo của người cán bộ, đảng viên. Bên cạnh đó, Liên khu còn nổi lên là vùng đất có truyền thống hiếu học. Trong lịch sử, nơi đây đã sản sinh ra hàng trăm Tiến sĩ, Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa.
Những danh nhân văn hóa đã đào tạo ra nhiều nhân tài và để lại những di sản văn hóa, khoa học cho đất nước.