CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÔNG TÁC XA HỘI VỚI TRE EM KHÔNG NƠI NƯƠNG TỰA 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về Công tác xã hội với trẻ em không nơi nương tựa Khái niệm trẻ em không nơi nương tựa được sử dụng trong dé tài được xem như là 01 dạng trẻ m6 côi (quy định cụ thê tại Điều 5 của Nghị định 56). Va là 01 trong nhóm đôi tượng thuộc trẻ có hoàn cảnh đặc biệt theo Luật trẻ em 2006. Những năm gần đây, trẻ em nói chung và trẻ em mò côi, không nơi nương tựa nói riêng luôn là đối tượng nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học.
nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Tiêu biêu có thé kê đến một số công trình nghiên cứu, bài báo, bài viết khoa học sau: 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Theo Tatek Abebe (2009), việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em m6 côi là một thách thức lớn về chính sách chăm sóc trẻ em, tác giả cũng nhân mạnh việc chong đói nghéo vả nâng cao khả năng chăm sóc của gia đình trong việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em từ góc độ dựa trên quyền. Cũng theo tác giả nên bắt đầu can thiệp từ bên ngoài, chủ yếu nên giải quyết các nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói và bị gạt ra ngoài lề xã hội.
thay vì khuếch đại sự bat bình đăng thông qua sự hỗ trợ có chọn lọc cho trẻ mé côi ở các cộng đồng dé bị ton thương về mặt kinh tế. Cũng với nhóm trẻ này tác giả Jessica Colburn (2010). đã đi vào nghiên cứu Hệ thông chăm sóc trẻ mô côi ở Ghana và nhận thấy rằng ở đây vẫn chưa thể chăm sóc đầy đủ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Chính vì vậy phòng Phúc lợi xã hội cần đầu tư vào dịch vụ tư vấn, trị liệu cho trẻ mô côi.
Chính phủ cần tạo ra sự phối hợp giữa chính phủ và các trại trẻ mồ côi (cả công và tư) dé xây dựng mối quan hệ tin cậy. Tiếp noi và mở rộng những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước mà Este De Jager (2011), nghiên cứu làm sáng tỏ nhu cầu của trẻ mô côi vì AIDS cũng như vẻ việc đào tạo và hỗ trợ mà cha mẹ nuôi sẽ cần. nhằm cung cấp hướng dẫn trang bị cho cha mẹ nuôi chăm sóc trẻ mô côi AIDS. Theo nghiên cứu của Tạp chí Phục hôi chức năng Iran (2015) về Hướng dẫn Công tác xã hội cho trẻ em lang thang sử dụng chất rồi loạn".
Nghiên cứu đã chỉ ra các phương pháp như 1: tiền hành tìm kiếm các tài liệu khoa học, 2: sàng lọc tài liệu và nghiên cứu, 3: nghiên cứu định tính về trường hợp chuyên gia có kinh nghiệm cung cấp dịch vụ. 4: phát trién dự thảo, 5: chia sẻ dự thảo và thu thập ý kiến chuyên gia, 6: hướng dẫn hoàn thiện. Qua đó những đánh giá tra trọng vào van dé can thiệp. hướng dẫn phù hợp.
đặt lợi ích của trẻ lên hang đầu thông qua tham vấn cá nhân, can thiệp dựa vào gia đình và giới thiệu trẻ đến Trung tâmy tế. Bên cạnh những công trình nghiên cứu về dé tài trẻ md côi, tác gid Milana Dziova (2018), đã tìm hiéu những rào cản mà trẻ mô côi phải vượt qua dé hòa nhập xã hội thành công và tránh bị tôn thương ở thủ đô Viadikavkaz của Cộng hòa Bắc Ossetia (Alania). Việc điều tra và tìm hiéu van đề này là cấp bách dé có thé đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện hoạt động đang dién ra. Đối với trẻ em Nga bước ra từ trường nội trú và trại trẻ mồ côi, đây gan như là vẫn đề quan trọng nhất của cuộc đời.
Quyên giám hộ của nha nước giúp học sinh trong các cơ sở của họ thoát khỏi mọi thói quen tự lập, định vị bản thân trong xã hội, giao tiếp với những người mới. Tác giả Hamdy Abdelaal (2019) cũng nghiên cứu về đôi tượng trẻ mé côi nhưng ở khía cạnh phát triển kỹ năng sống. Mẫu bao gồm 30 trẻ mô côi trong Quỹ phúc lợi trẻ em trai Ahmed Jabra ở Qena được chỉ định ngẫu nhiên. Nó được chia thành một nhóm thử nghiệm và một nhóm khác là nhóm kiểm soát (15 trẻ mô côi trong mỗi nhóm).
Mỗi nhóm được yêu cau hoản thành thang đo kỹ năng sông dành cho trẻ m6 côi (kiểm tra trước). trẻ mô côi trong nhóm thực nghiệm được làm quen với mô hình cuộc sống nhằm xây dựng kỹ năng sông. Sự 6 can thiệp kéo dai trong 12 tuần. trẻ m6 côi ở nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng hoàn thành lại các biện pháp (hậu kiểm).
Kết qua cho thay sử dụng mô hình cuộc sống trong công tác xã hội là một phương pháp hữu hiệu nhằm nâng cao kỹ năng sông cho trẻ mô côi Kế thừa những công trình nghiên cứu trước mà tác giả Manal M Alqahtani (2021), đã chọn nghiên cứu thực tế địch vụ và chất lượng cuộc sống của trẻ mồ côi, xác định mối mối giữa cả hai biến số và đề xuất chương trình cải thiện chất lượng cuộc sông của trẻ mồ côi tại các cơ sở chăm sóc xã hội. Tác gia đã phát triển và áp dụng một bảng câu hỏi về thực tế dich vụ được cung cấp và đo lường chất lượng cuộc sông cho (100) trẻ mô côi tại các nhà chăm sóc xã hội ở Riyadh, A Rap Saudi. Kết quả cho thay mức độ dich vụ và chất lượng cuộc sông thấp của trẻ mô côi tại các cơ sở chăm sóc xã hội. Có mối tương quan tích cực giữa những dịch vụ đó và chất lượng cuộc song của trẻ mỏ côi.
Bài viết khuyến nghị những người ra quyết định và những chuyên gia trong việc chăm sóc và phục hỏi trẻ mô côi nên áp dụng chương trình dé xuất dé cải thiện chất lượng cuộc sông của các em. Hơn nữa, chương trình này phải là một phan không thé thiếu trong các chương trình giáo dục và phục hồi chức năng dành cho trẻ mô côi ở tương lai. Cùng với những nghiên cứu trên Mariana (2019), cũng nhận thay rằng trẻ mô côi và trẻ em dé bị tôn thương hau hết không được chăm sóc và hỗ trợ day đủ. Qua quan sát, phỏng van bán câu trúc và thảo luận nhóm tập trung được sử dụng đẻ thu thập dữ liệu.
Đối tượng nghiên cứu là trẻ mô côi và trẻ em dé bị tổn thương. Những người cung cấp thông tin chính, lãnh đạo cộng đồng, người chăm sóc và nhân viên xã hội cũng tham gia vào nghiên cứu này. Dữ liệu định tính được sao chép, mã hóa va phân tích bằng Atlas phần mềm ti. Các phát hiện cho thay nghẻo đói, HIV và AIDS, mang thai khi còn nhỏ, xung đột gia đình, ly thân và sơ suất với trẻ em là một số lý do khiến trẻ em được đưa vào chăm sóc thay thế.
N ghiên cứu còn phát hiện ra rang trẻ em phải đối mặt với những rào cản trong việc tiếp cận dich vụ chăm sóc thay thể như nghèo đói va AIDS, phân biệt đôi xử và kỳ thị cũng như các quá trình lâu dài liên quan đến việc nuôi đưỡng và nhận con nuôi. Ngoài ra, đữ liệu còn tiết lộ rằng một số trẻ em bị đối xử tệ bạc trong các hệ thông chăm sóc thay thế khác nhau. Xây dựng cách tiếp cận toàn diện nhằm giải quyết các nhu cầu chăm sóc và bảo vệ trẻ em, hỗ trợ trẻ em, gia đình và cộng đồng nghẻo; và thúc đây các dịch vụ phúc lợi xã hội dé đảm bảo chăm sóc day du cho tré em ma không có sự chăm sóc của cha me được khuyến nghị dựa trên những phát hiện này. 7 Mildred (2010) lai cho rang số lượng trẻ mồ côi và trẻ em dé bị tồn thương chưa từng có ở Zimbabwe đã tạo ra nhu cầu cấp thiết phải tạo ra những cách thức sáng tạo để cung cấp sự bảo trợ xã hội cho những trẻ em này.
Các gói sáng tạo bao gồm hỗ trợ giáo dục, thực phẩm và tâm lý xã hội đang được các tô chức phi chính phủ thực hiện. Tuy nhiên, khi cuộc khủng hoảng trẻ mé côi tiếp tục ngày càng sâu sắc, cần phái làm nhiều việc hơn nữa và học hỏi từ kinh nghiệm của các quốc gia khác, phương án chuyên tiền mặt dé bảo trợ xã hội cho trẻ mồ côi và trẻ em dé bị tôn thương là một lựa chọn hap dan đối với Zimbabwe. Bài viết này tìm hiểu khả năng sử dụng các khoản chuyên tiền mặt dé hỗ trợ trẻ m6 côi và trẻ em dé bị tồn thương, đồng thời nêu bật những thách thức và điểm mạnh của phương pháp này. Cũng với đối tượng trẻ mỏ côi nhưng tác giả Cheryl Chui (2017) lại chọn hướng tiếp cận và nghiên cứu về vai trò của các tô chức phi chính phủ quốc tế (INGO) trong việc cung cấp phúc lợi xã hội nhằm giải quyết các nhu cau phát triển và vật chất của trẻ mồ côi ở vùng nông thôn Trung Quốc.
Dữ liệu từ các cuộc phỏng vấn định tính với đại diện INGO và các quan chức nhà nước được kết hợp với phân tích tài liệu đẻ điều tra cách thức mà nhà nước và xã hội dân sự đáp ứng nhu cầu của trẻ mé côi. Người ta nhận thấy rang trong khi các INGO đang tích cực đóng góp vao việc cung cấp xã hội cho trẻ mô côi, một phan phan ánh sự đa dạng hóa phúc lợi. thì chính phủ Trung Quốc cần phải đóng vai trò chủ động hơn trong việc bảo vệ sự chăm sóc và bảo vệ của một trong những quốc gia quan trọng nhất của Trung Quốc. các nhóm dân cư dé bị tồn thương.
Tác giả Norvy Paul (2017), cũng đã chọn nghiên cứu về các phan trí tuệ và cảm xúc trong điều kiện của trẻ dé tạo ra môi trường phát triển là những lĩnh vực then chốt trong sự phát trién tông thé của não bộ. Ở trẻ mồ côi. sức khỏe tâm thần kém là yếu tổ nguy cơ dẫn đến nhiều van dé tâm lý. Việc nghiên cứu trạng thái tâm lý của trẻ mô côi là cần thiết.
Lane (2002) cho rằng trí tuệ cảm xúc có liên quan đến kết quả học tập. Vẫn cần phải điều tra mối quan hệ giữa trí tuệ cảm xúc và hành vi học tập của thanh thiểu niên mo côi ở quốc gia như Án Độ. Nghiên cứu đang được thực hiện trên trẻ mồ côi được nuôi dưỡng tại Cochin dé hiểu vai trò của trí tuệ cảm xúc trong kết quả học tập và hòa nhập xã hội của trẻ mé côi. Kết quả cho thấy răng những người được hỏi có mức độ trí tuệ cảm xúc vừa phải, điều này được phản ánh trong Hanh vi học thuật và khả nang hòa nhập xã hội của họ.