Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội của tác giả Lê Nguyễn Kim Chi (Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, 2024, người hướng dẫn: ThS. Lưu Mạnh Hùng) tập trung nghiên cứu hoạt động trợ giúp xã hội cho nhóm trẻ em không nơi nương tựa tại các cơ sở bảo trợ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1990, đồng thời ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp 2013 (Điều 37, Chương II), Luật Trẻ em 2016, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (Điều 69), Nghị định số 56/2017/NĐ-CP và Nghị định số 103/2017/NĐ-CP. Dẫn số liệu từ Hội Bảo vệ quyền trẻ em và nghiên cứu của Phạm Thu Ngân (2023), tác giả nêu rõ TP. Hồ Chí Minh có hơn 1,8 triệu trẻ em, trong đó có hơn 10.000 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (mồ côi, khuyết tật, lao động sớm chưa hoàn thành phổ cập THCS, bị xâm hại) cùng nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt. Mặc dù địa bàn có 73 cơ sở bảo trợ xã hội công lập và ngoài công lập, mạng lưới này vẫn chưa đáp ứng kịp thời trước áp lực gia tăng số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đặc biệt là sự thiếu hụt cơ sở dữ liệu và tác động từ đại dịch làm xuất phát điểm hơn 3.000 trẻ mồ côi do COVID-19.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là mô tả thực trạng công tác xã hội với trẻ em không nơi nương tựa tại TP. Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ nhóm đối tượng này.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm 3 nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác xã hội với trẻ em không nơi nương tựa.
  2. Thu thập thông tin, đánh giá thực trạng hoạt động công tác xã hội với trẻ em không nơi nương tựa tại TP. Hồ Chí Minh.
  3. Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội với trẻ em không nơi nương tựa tại TP. Hồ Chí Minh.

Giả thuyết nghiên cứu đặt ra:

  • Hoạt động tham vấn, tư vấn, hỗ trợ tâm lý là mảng hoạt động còn nhiều hạn chế tại các cơ sở bảo trợ xã hội trong và ngoài công lập.
  • Năng lực nguồn tài chính là yếu tố tác động mạnh nhất đến hoạt động công tác xã hội với trẻ em không nơi nương tựa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động của nhân viên công tác xã hội tại cơ sở bảo trợ xã hội; kiến thức, thái độ, kỹ năng, phương pháp thực hành của nhân viên và các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình hỗ trợ trẻ không nơi nương tựa.
  • Khách thể khảo sát: 3 trường hợp nhân viên công tác xã hội đang làm việc tại các mô hình bảo trợ xã hội công lập, tư nhân và tổ chức phi chính phủ tại TP. Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi không gian: Các cơ sở bảo trợ xã hội trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 10/2023 đến tháng 4/2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Văn bản xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các định nghĩa chuẩn hóa và hai khung lý thuyết chuyên ngành:

  • Khung khái niệm và văn bản pháp lý:

    • Khái niệm công tác xã hội: Trích dẫn định nghĩa của Từ điển bách khoa ngành CTXH (1995), Hiệp hội Quốc gia các Nhân viên Xã hội Hoa Kỳ (NASW, 1970) và tài liệu của Nguyễn Thị Oanh (2004) nhằm xác định công tác xã hội là hoạt động trợ giúp chuyên nghiệp thúc đẩy năng lực "tự giúp" của thân chủ.
    • Khái niệm trẻ em và trẻ em không nơi nương tựa: Đối chiếu giữa Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em 1989 (người dưới 18 tuổi) và Luật Trẻ em Việt Nam 2016 (người dưới 16 tuổi); áp dụng định nghĩa trẻ không nơi nương tựa theo 12 trường hợp cụ thể tại Điều 5 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP.
    • Cơ sở bảo trợ xã hội / cơ sở trợ giúp xã hội: Quy định phân loại công lập và ngoài công lập theo Nghị định số 103/2017/NĐ-CP.
    • Đặc điểm tâm - sinh lý trẻ mồ côi, không nơi nương tựa: Kế thừa nghiên cứu của Nguyễn Thanh Kiều Xuân và Nguyễn Thị Kim Sang (2021) về sức đề kháng thể chất kém, tâm lý hoang mang, tự ti, mặc cảm, xu hướng nghi ngờ và bản lĩnh thích nghi xã hội.
  • Các lý thuyết tiếp cận:

    • Thuyết hệ thống sinh thái (Carel Bailey Germain đề xướng năm 1973, 1992; Alex Gitterman phát triển): Phân tích tương tác đa chiều giữa thân chủ và môi trường sống qua 3 bước (Đánh giá ban đầu -> Can thiệp theo 3 hướng: thân chủ, môi trường, sự tiếp xúc giữa thân chủ và môi trường -> Kết thúc và lượng giá).
    • Thuyết thang bậc nhu cầu (Abraham Maslow, mở rộng năm 1990): Đánh giá mức độ đáp ứng 5 bậc nhu cầu cơ bản (sinh lý, an toàn, xã hội, tôn trọng, tự khẳng định bản thân) cùng các nhu cầu thẩm mỹ, nhận thức và siêu nghiệm của trẻ tại các cơ sở.
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên ngành, văn bản luật, nghị định, tạp chí khoa học và các công trình luận văn, luận án liên quan.
    • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case Study): Tiếp cận theo phương pháp nghiên cứu định tính, thực hiện phỏng vấn sâu (In-depth interview) đối với 3 nhân viên công tác xã hội thuộc 3 mô hình bảo trợ đặc trưng.
Nhân vật khảo sát Chức danh / Đơn vị Trình độ chuyên môn / Thâm niên Đặc điểm mô hình cơ sở
Cô T Cán bộ giáo dục, Làng trẻ em SOS Gò Vấp (Làng X) Thạc sĩ Công tác xã hội; 10 năm kinh nghiệm Cơ sở bảo trợ hợp tác công - phi chính phủ quốc tế; mô hình nhà gia đình do các "Bà Mẹ", "Bà Dì" trực tiếp nuôi dưỡng (8-10 trẻ/nhà).
Cha D Giám đốc điều hành, Mái ấm Hoa Huệ (Mái ấm E) Cử nhân Xã hội học; 12 năm làm nhân viên CTXH, 3 năm làm quản lý Cơ sở bảo trợ ngoài công lập trực thuộc dòng Đức Mẹ Lên Trời; tiếp nhận và nuôi dưỡng trẻ em nam từ 6 đến 18 tuổi.
Chị H Cán bộ dự án / Nhân viên CTXH, Tổ chức WWO (Tổ chức W) Cán bộ chuyên trách dự án; 3 năm kinh nghiệm Tổ chức phi chính phủ can thiệp dựa vào cộng đồng; mô hình hỗ trợ kỹ thuật và dự án cho trẻ có nguy cơ cao (độ tuổi 8-15).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về Công tác xã hội với trẻ em không nơi nương tựa

Chương 1 tổng hợp bức tranh nghiên cứu trong và ngoài nước, đồng thời xác lập hệ thống khái niệm công cụ:

  • Tổng quan nghiên cứu quốc tế: Điểm qua các công trình của Tatek Abebe (2009) về giảm nghèo dựa trên quyền; Jessica Colburn (2010) về dịch vụ tư vấn trị liệu tại Ghana; Este De Jager (2011) về trẻ mồ côi do AIDS; nghiên cứu của Tạp chí Phục hồi chức năng Iran (2015) về can thiệp trẻ đường phố; Milana Dziova (2018) về rào cản hòa nhập tại Nga; Hamdy Abdelaal (2019) về mô hình kỹ năng sống kéo dài 12 tuần cho 30 trẻ mồ côi tại Ai Cập; Manal M Alqahtani (2021) khảo sát chất lượng sống 100 trẻ tại Ả Rập Xê Út; Mariana (2019); Mildred (2010) về chương trình chuyển tiền mặt tại Zimbabwe; Cheryl Chui (2017) về vai trò tổ chức phi chính phủ quốc tế tại Trung Quốc; Norvy Paul (2017) về trí tuệ cảm xúc và kết quả học tập ở Ấn Độ.
  • Tổng quan nghiên cứu trong nước: Phân tích các luận điểm về khung pháp lý của Trần Minh Đức (2018), chính sách trợ giúp của Lê Thị Thu (2020); mô hình nuôi dưỡng tại trung tâm của Nguyễn Thị Quỳnh (2014), Nguyễn Đức Dũng (2017); can thiệp tại cộng đồng của Trần Thị Kim Thanh (2016); phương pháp CTXH nhóm của Nguyễn Văn Quảng (2016); quản lý ca và CTXH cá nhân của Đỗ Thị Kim Huế (2021); hoạt động hòa nhập cộng đồng của Dương Trọng Nghĩa (2019), Đỗ Thị Thu Phương (2021); vai trò nhân viên CTXH của Trần Thị Thu Uyên (2020) và nhu cầu dịch vụ của Nguyễn Huyền Linh (2023).
  • Cấu trúc 7 nhóm hoạt động công tác xã hội với trẻ em không nơi nương tựa: Xác định rõ nội dung thực hiện trong chăm sóc - nuôi dưỡng, giáo dục - hướng nghiệp, chăm sóc y tế, tham vấn - hỗ trợ tâm lý, trợ giúp pháp lý, kết nối nguồn lực và hỗ trợ hòa nhập cộng đồng.

Chương 2: Kết quả nghiên cứu Công tác xã hội với trẻ em không nơi nương tựa tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 2 trình bày toàn bộ dữ liệu định tính thu được từ việc phân tích 3 trường hợp nghiên cứu:

Nhóm hoạt động CTXH Thực tế triển khai tại Làng SOS Gò Vấp (Làng X) Thực tế triển khai tại Mái ấm Hoa Huệ (Mái ấm E) Thực tế triển khai tại Tổ chức WWO (Tổ chức W)
Chăm sóc, nuôi dưỡng Vận hành theo 4 nguyên tắc (Bà mẹ, anh chị em, ngôi nhà gia đình, cộng đồng làng); nhân viên CTXH giám sát khẩu phần dinh dưỡng, nội quy và an toàn khi trẻ về thăm quê. Nhân viên CTXH hỗ trợ giám sát bữa ăn theo thực đơn chuyên gia dinh dưỡng, quản lý nề nếp sinh hoạt, vệ sinh, giờ kinh tối. Can thiệp dựa vào cộng đồng theo dự án (khoảng 120 trẻ từ 8-15 tuổi); không trực tiếp nuôi dưỡng tập trung.
Giáo dục & Hướng nghiệp Hỗ trợ học hòa nhập tại trường phổ thông bên ngoài; kết nối nhà trường và hỗ trợ hướng nghiệp. Cha D giảng dạy giá trị sống tối thứ 6; tổ chức 3 Thánh lễ/tuần; học giáo lý chủ nhật; liên kết đào tạo nghề. Cấp học bổng hằng năm; kết nối chuyên gia hướng nghiệp theo ca; hỗ trợ sinh hoạt phí học nghề; mở hội trại kỹ năng cho trẻ 8-16 tuổi (nhiễm HIV/ung thư).
Chăm sóc y tế Bác sĩ chuyên trách khám tổng quát định kỳ 2 lần/năm; nhân viên CTXH điều phối hồ sơ chuyển tuyến khi bệnh nặng. Phòng y tế nội bộ có tủ thuốc; khám định kỳ tại trạm y tế/bệnh viện; Cha D và nhân viên CTXH trực tiếp đưa trẻ đi viện. Bác sĩ của tổ chức tư vấn, hướng dẫn vệ sinh và chăm sóc bệnh da liễu/y tế từ xa (online) trong thời gian dịch bệnh.
Tham vấn & Hỗ trợ tâm lý Bị gián đoạn từ năm 2022 sau đại dịch do cắt viện trợ từ Châu Âu; kết nối dự án tình nguyện của ĐH Hoa Sen; nhân viên CTXH chỉ xử lý các ca căng thẳng nhẹ. Cha D và nhân viên CTXH trực tiếp tham vấn cơ bản; mời sinh viên/chuyên viên tâm lý làm chuyên đề định kỳ; chuyển gửi ca nặng. Chuyên gia tâm lý hỗ trợ trực tuyến và trực tiếp theo tiến trình quản lý ca; kết nối phòng khám chuyên khoa bên ngoài.
Trợ giúp pháp lý Làm giấy khai sinh, CCCD, BHYT; khảo sát tuyển sinh trẻ từ 64 tỉnh thành; tham gia bảo vệ, đại diện và biện hộ cho trẻ tại công an, tòa án. Hoàn thiện thủ tục tạm trú, giấy xác nhận bảo trợ của chính quyền; đại diện bảo lãnh khi trẻ vướng mắc pháp luật. Tần suất thấp; từng kết nối luật sư hỗ trợ làm giấy khai sinh thành công cho trường hợp trẻ sơ sinh mồ côi cả cha mẹ.
Kết nối nguồn lực Tổ chức sự kiện lễ tết, vận động tài chính trong khuôn khổ quy định khi nguồn tài trợ quốc tế sụt giảm. Cha D và nhân viên CTXH vận động mạng lưới mạnh thường quân quen thuộc và đội ngũ tình nguyện viên các trường đại học/cao đẳng. Kết nối chuyển tiếp thân chủ sang tổ chức đối tác khác để duy trì học bổng sau khi dự án của WWO kết thúc.
Hòa nhập cộng đồng Tổ chức dã ngoại 1-2 lần/năm, tham quan doanh nghiệp, giao lưu tình nguyện; làm thủ tục hồi gia khi gia đình đủ điều kiện. Dạy kỹ năng sống, kỷ luật; tổ chức dã ngoại dịp lễ; chuẩn bị tâm lý trước khi rời mái ấm; làm hồ sơ hồi gia (tỷ lệ ít). Mở lớp kỹ năng hậu COVID-19 cho 60% trẻ (8-15 tuổi) chuyển đổi từ học trực tuyến sang trực tiếp; tập huấn kỹ năng nuôi dạy con cho phụ huynh.
  • Năng lực chuyên môn của nhân viên CTXH:
    • Kiến thức: Đòi hỏi am hiểu sâu công tác xã hội cá nhân (tần suất xử lý 1-2 ca/ngày, khoảng 20 ca/tháng), phương pháp quản lý ca, tâm lý học lứa tuổi, các mốc phát triển trẻ em và hệ thống pháp luật bảo vệ quyền trẻ em.
    • Thái độ: Đòi hỏi lòng kiên nhẫn, tính vị tha, sự tận tâm, tôn trọng phẩm giá thân chủ và tuyệt đối không khơi gợi lại nỗi đau mất mát của trẻ mồ côi.
    • Kỹ năng: Sử dụng thành thạo kỹ năng lắng nghe, quan sát, đặt câu hỏi mở, kiểm soát cảm xúc bản thân, đặc biệt là kỹ năng thấu cảm và kỹ năng biện hộ quyền lợi trước cơ quan điều tra, tòa án.
    • Phương pháp thực hành: Phương pháp CTXH cá nhân (quản lý ca) và phương pháp CTXH nhóm (duy trì nhóm nam, nhóm nữ sinh hoạt theo chủ đề) được áp dụng phổ biến; phương pháp nghiên cứu và quản trị trong công tác xã hội chưa được thực hiện thường xuyên.

Kết quả và đóng góp

Văn bản khóa luận đạt được các kết quả cụ thể sau:

  • Khái quát thực trạng hoạt động: Làm rõ vai trò thực tế của nhân viên CTXH tại các cơ sở bảo trợ không phải là người trực tiếp thay thế mẹ nuôi hay chuyên gia y tế/tâm lý, mà đóng vai trò chủ đạo trong việc lập kế hoạch, điều phối, giám sát, kết nối nguồn lực và biện hộ pháp lý cho trẻ.
  • Xác thực các giả thuyết nghiên cứu:
    • Giả thuyết về mảng tâm lý: Được chứng minh là đúng. Hoạt động tham vấn chuyên sâu tại các cơ sở đều gặp khó khăn lớn do thiếu kinh phí chi trả cho chuyên gia tâm lý chuyên trách, phần lớn phải dựa vào các dự án ngắn hạn hoặc sự hỗ trợ không thường xuyên của tình nguyện viên.
    • Giả thuyết về tài chính: Được chứng minh là đúng. Nguồn kinh phí chi phối trực tiếp quy mô can thiệp (ví dụ: Làng SOS bị cắt nguồn viện trợ từ Châu Âu sau năm 2021 dẫn đến dừng các chuyên đề tâm lý; Tổ chức WWO chỉ có đủ nguồn lực nhân sự hỗ trợ 100 ca trong số hơn 3.000 trẻ mồ côi vì COVID-19 tại TP. Hồ Chí Minh).

Các giải pháp/kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Đối với các cơ sở bảo trợ xã hội: Cần chủ động đa dạng hóa nguồn tài chính, tránh phụ thuộc vào một nguồn viện trợ duy nhất; chú trọng xây dựng quy trình can thiệp tâm lý chuyên sâu và mở rộng liên kết với các trường đại học, bệnh viện.
  • Đối với nhân viên công tác xã hội: Không ngừng tự đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật kiến thức luật pháp, rèn luyện kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng quản lý ca và năng lực biện hộ xã hội.
  • Đối với cơ sở đào tạo ngành công tác xã hội: Tăng cường thời lượng thực hành thực tế, đào tạo chuyên sâu về kỹ năng làm việc với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và kỹ năng tham vấn trị liệu tâm lý ứng dụng.

Đóng góp của đề tài: Khóa luận đã bổ sung góc nhìn thực tiễn về công tác xã hội đối với phân nhóm "trẻ em không nơi nương tựa" theo đúng tiêu chí của Nghị định 56/2017/NĐ-CP trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh — một phân nhóm hẹp thường bị gộp chung vào khái niệm diện rộng như "trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt" hay "trẻ mồ côi" trong các công trình nghiên cứu trước đây.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:

    • Mẫu khảo sát định tính có quy mô giới hạn (3 trường hợp nhân viên công tác xã hội tại 3 cơ sở), chưa bao quát hết 73 cơ sở bảo trợ xã hội công lập và ngoài công lập trên toàn địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
    • Dung lượng nghiên cứu tập trung chủ yếu vào quan điểm và đánh giá từ phía người cung cấp dịch vụ (nhân viên CTXH, nhà quản lý), chưa khảo sát trực tiếp phản hồi và mức độ thụ cảm dịch vụ từ chính trẻ em không nơi nương tựa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát bằng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính trên diện rộng các trung tâm bảo trợ công lập và ngoài công lập tại khu vực phía Nam.
    • Nghiên cứu sâu về hiệu quả của các mô hình trị liệu tâm lý và đánh giá quá trình tái hòa nhập cộng đồng sau 18 tuổi của trẻ em không nơi nương tựa.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng tài liệu:
    • Sinh viên và học viên chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Tâm lý học tham khảo về quy trình thực hiện nghiên cứu trường hợp (Case Study) và kỹ thuật phỏng vấn sâu trong nghiên cứu an sinh xã hội.
    • Cán bộ quản lý, nhân viên xã hội tại các cơ sở bảo trợ, nhà mở, mái ấm, làng trẻ em tham khảo kinh nghiệm điều phối dịch vụ y tế, giáo dục, kết nối nguồn lực và quy trình trợ giúp pháp lý cho trẻ.
  • Nội dung có giá trị ứng dụng cao:
    • Bảng tổng hợp các hoạt động can thiệp thực tế theo 7 chức năng công tác xã hội tại Chương 2.
    • Bộ tiêu chí nhận diện và quy trình phân loại 12 trường hợp trẻ không nơi nương tựa theo Điều 5 Nghị định 56/2017/NĐ-CP được hệ thống hóa tại Chương 1.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận căn cứ vào văn bản pháp lý nào để xác định đối tượng "trẻ em không nơi nương tựa"?
Khóa luận căn cứ vào Điều 5 Nghị định số 56/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em, bao gồm 12 trường hợp cụ thể (như trẻ mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích; cha mẹ đang chấp hành án phạt tù hoặc tại cơ sở cai nghiện/giáo dục bắt buộc; cha mẹ không còn khả năng chăm sóc hoặc bị hạn chế quyền làm cha mẹ).

2. Ba mô hình bảo trợ xã hội được chọn làm nghiên cứu trường hợp trong đề tài có đặc trưng gì?
Ba mô hình gồm: Làng trẻ em SOS Gò Vấp (mô hình kết hợp chính phủ và phi chính phủ quốc tế, tổ chức theo các nhà gia đình do mẹ nuôi phụ trách); Mái ấm Hoa Huệ (mô hình cơ sở tư nhân ngoài công lập thuộc dòng Đức Mẹ Lên Trời nuôi dưỡng trẻ em nam từ 6-18 tuổi); Tổ chức WWO (mô hình tổ chức phi chính phủ triển khai dự án hỗ trợ kỹ thuật và can thiệp cho trẻ tại cộng đồng).

3. Khối lượng công việc quản lý ca (case management) của một nhân viên công tác xã hội được ghi nhận như thế nào trong khóa luận?
Theo chia sẻ thực tế của nhân viên CTXH tại Làng SOS Gò Vấp (Cô T), mỗi ngày nhân viên xử lý từ 1 đến 2 ca và giải quyết khoảng 20 ca trong một tháng; khối lượng công việc đòi hỏi xử lý liên tục từ khi tiếp nhận hồ sơ trẻ đến khi trưởng thành xuất cơ sở.

4. Nguyên nhân chính khiến hoạt động hỗ trợ tâm lý tại Làng SOS Gò Vấp bị gián đoạn từ sau năm 2021 là gì?
Nguyên nhân trực tiếp là do tổ chức bị cắt nguồn kinh phí viện trợ từ Châu Âu sau đại dịch COVID-19, dẫn đến việc không còn ngân sách để định kỳ chi trả cho các chuyên gia tâm lý chuyên sâu từ bên ngoài về làm việc tại Làng.

5. Nhân viên công tác xã hội giữ vai trò gì trong hoạt động trợ giúp pháp lý cho trẻ tại các cơ sở?
Nhân viên CTXH trực tiếp hướng dẫn, làm hồ sơ xin cấp giấy khai sinh, căn cước công dân, thẻ bảo hiểm y tế, đăng ký tạm trú; đồng thời đại diện cho cơ sở để biện hộ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho trẻ trước công an và tòa án trong các vụ việc liên quan đến pháp luật.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Nguyễn Kim Chi đã hệ thống hóa toàn diện khung lý luận và phản ánh chân thực thực trạng công tác xã hội với trẻ em không nơi nương tựa tại ba mô hình cơ sở bảo trợ đặc trưng ở TP. Hồ Chí Minh. Nghiên cứu đã kiểm chứng và làm sáng tỏ hai giả thuyết về sự thiếu hụt dịch vụ hỗ trợ tâm lý chuyên sâu cũng như áp lực sống còn từ nguồn kinh phí hoạt động. Các đề xuất từ công trình mang tính thực tiễn cao, đóng góp tài liệu hữu ích cho việc hoàn thiện năng lực thực hành của nhân viên công tác xã hội và nâng cao hiệu quả chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.