Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng trên quy mô toàn cầu do tỷ suất sinh giảm và tuổi thọ trung bình tăng cao. Theo các số liệu nhân khẩu học quốc tế, trong giai đoạn 2005–2050, một nửa dân số tăng thêm trên thế giới thuộc nhóm từ 60 tuổi trở lên; tại các khu vực phát triển, dân số từ 60 tuổi trở lên dự kiến tăng gần gấp đôi (từ 245 triệu người năm 2005 lên 406 triệu người vào năm 2050). Tại Việt Nam, số liệu từ cuộc Điều tra biến động dân số ngày 01/4/2011 cho thấy tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm 10,2% và tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm 7,0%, đánh dấu thời điểm Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số, sớm hơn 6 năm so với các dự báo trước đó từ cuộc Tổng điều tra dân số năm 2009.

Sự chuyển dịch từ mô hình gia đình truyền thống nhiều thế hệ sang gia đình hạt nhân khiến người cao tuổi phải đối mặt với nhiều rủi ro về suy giảm thể chất, bệnh mạn tính, sự cô đơn và khủng hoảng tâm lý. Bên cạnh hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội công lập, các cơ sở chăm sóc người cao tuổi ngoài công lập vận hành theo cơ chế tự nguyện, có thu phí bắt đầu hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu an dưỡng đa dạng. Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Orihome là một trong những mô hình tư nhân được thành lập nhằm cung cấp các dịch vụ chăm sóc toàn diện, trong đó hoạt động công tác xã hội cá nhân giữ vai trò hỗ trợ tâm lý cho người cao tuổi an dưỡng tại đây.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về người cao tuổi và công tác xã hội cá nhân hỗ trợ tâm lý cho người cao tuổi.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng đời sống tâm lý và nhu cầu cần được hỗ trợ của người cao tuổi tại Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Orihome.
  3. Vận dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân vào việc can thiệp, trợ giúp tâm lý cho trường hợp cụ thể tại Trung tâm Orihome.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm bảo đảm và nâng cao hiệu quả thực hiện công tác xã hội cá nhân hỗ trợ tâm lý đối với người cao tuổi.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác xã hội cá nhân hỗ trợ tâm lý cho người cao tuổi.
  2. Khảo sát thực trạng đời sống và tâm lý của người cao tuổi tại Trung tâm Orihome.
  3. Thực hiện tiến trình công tác xã hội cá nhân hỗ trợ tâm lý cho thân chủ là người cao tuổi tại trung tâm.
  4. Đề xuất một số giải pháp bảo đảm thực hiện công tác xã hội cá nhân hỗ trợ tâm lý cho người cao tuổi tại cơ sở.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động công tác xã hội cá nhân hỗ trợ tâm lý cho người cao tuổi tại Trung tâm Orihome.
  • Khách thể nghiên cứu: 01 thân chủ là người cao tuổi được tiếp nhận can thiệp ca trực tiếp tại Trung tâm Orihome. Nhóm khách thể mở rộng phục vụ khảo sát gồm có: 20 người cao tuổi đang sinh sống tại trung tâm (trên tổng số 30 người, loại trừ 10 trường hợp suy giảm nhận thức nặng), 05 thân nhân người cao tuổi, 05 cán bộ/kiểm huấn viên công tác xã hội, 03 điều dưỡng viên và 03 lãnh đạo địa phương.
  • Phạm vi không gian: Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Orihome (Số 19 ngõ 139 phố Bằng Liệt, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội).
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 12/2023 đến tháng 02/2024.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào thực trạng tâm lý, các yếu tố tác động và tiến trình can thiệp công tác xã hội cá nhân hỗ trợ tâm lý cho người cao tuổi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng phân tích dựa trên hệ thống khái niệm chuyên ngành, các lý thuyết khoa học xã hội và khung chính sách pháp luật hiện hành:

  • Hệ thống khái niệm:

    • Công tác xã hội: Tiếp cận theo định nghĩa của Hiệp hội Quốc gia Nhân viên Xã hội Hoa Kỳ (NASW, 1970), Hiệp hội Nhân viên Công tác Xã hội Quốc tế (IFSW, 2000) và Quyết định 32/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
    • Công tác xã hội cá nhân (Case Work / Working with individuals): Phương pháp tương tác 1–1 giữa nhân viên xã hội và thân chủ nhằm hỗ trợ cá nhân giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội và phục hồi chức năng xã hội.
    • Người cao tuổi: Khảo sát định nghĩa dưới góc độ y học (suy giảm chức năng cơ thể), quốc tế (Tổ chức Y tế Thế giới WHO quy định từ 70 tuổi trở lên; một số quốc gia như Đức, Hoa Kỳ quy định từ 65 tuổi trở lên), pháp luật Việt Nam (Luật Người cao tuổi năm 2009 quy định là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên) và quan điểm công tác xã hội (nhóm đối tượng yếu thế cần trợ giúp xã hội).
  • Khung lý thuyết ứng dụng:

    • Lý thuyết hệ thống sinh thái (Ecological Systems Theory - Ludwig von Bertalanffy, 1940): Nhìn nhận cá nhân người cao tuổi như một hệ thống vi mô chịu sự tác động qua lại từ các hệ thống gia đình, cơ sở chăm sóc, chính sách an sinh và môi trường xã hội.
    • Thuyết nhu cầu (Hierarchy of Needs - Abraham Maslow): Phân tích 5 bậc nhu cầu của người cao tuổi (nhu cầu sinh lý, an toàn, xã hội/giao tiếp, được tôn trọng, tự thể hiện bản thân) để xác định các thiếu hụt tâm lý cần can thiệp.
  • Cơ sở chính sách và pháp luật:

    • Hiến pháp năm 1992 (Điều 64 và Điều 87).
    • Luật Người cao tuổi năm 2009 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2010).
    • Luật Hôn nhân và gia đình (Điều 36 và Điều 47), Bộ luật Lao động (Điều 124), Bộ luật Hình sự (Điều 151 và Điều 152).
    • Chỉ thị số 59/CT-TW (1995), Thông báo số 12-TB/TW (2001), Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Phát triển nghề công tác xã hội, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, Thông tư số 07/2013/TT-BLĐTBXH, Đề án Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi giai đoạn 2017–2025 (Bộ Y tế phê duyệt ngày 30/12/2016).
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp phân tích tài liệu: Tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước (Vũ Đăng Cảnh Linh, 2009; Hồ Văn Sơn và Bùi Thị Tú Quyên, 2020; Phạm Thắng và Đỗ Khánh Hỷ, 2009; Lê Vũ Anh và cộng sự, 2010; Lê Văn Khảm, 2014; Phùng Thanh Quang, 2014) và quốc tế (Melen R. Mcbride và cộng sự; UNFPA & HelpAge International, 2012; Masoud Pezeshkian, 2002; Hong Tao & Susan McRoy, 2004; Chanitta Soommaht và cộng sự, 2008; Dean Blevins và cộng sự, 2008).
    • Phương pháp quan sát: Ghi nhận thái độ, hành vi, cảm xúc và tương tác hàng ngày của người cao tuổi trong môi trường trung tâm.
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát toàn bộ $n = 20$ người cao tuổi đủ năng lực hành vi tại Trung tâm Orihome về nhận thức, nhu cầu và mức độ hài lòng đối với dịch vụ công tác xã hội.
    • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp thân chủ, cán bộ chuyên môn, điều dưỡng và kiểm huấn viên (thời lượng 45–60 phút/buổi).
    • Phương pháp công tác xã hội cá nhân: Vận dụng tiến trình chuẩn gồm 6 bước: (1) Tiếp nhận; (2) Thu thập thông tin; (3) Đánh giá và xác định vấn đề; (4) Lập kế hoạch trợ giúp; (5) Thực hiện kế hoạch; (6) Lượng giá và kết thúc/chuyển giao.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác xã hội cá nhân hỗ trợ tâm lý cho người cao tuổi

Chương này tổng kết bức tranh lý luận về dịch vụ công tác xã hội dành cho người cao tuổi. Tác giả chỉ ra rằng già hóa dân số dẫn đến sự suy giảm đồng thời về sức khỏe thể chất lẫn khả năng thích ứng xã hội. Khoảng 70% người cao tuổi Việt Nam không có tích lũy vật chất, 60% sống trong hoàn cảnh khó khăn và 81% mắc bệnh mạn tính. Hệ thống văn bản pháp quy từ Hiến pháp, Luật Người cao tuổi đến các đề án của Chính phủ đã bước đầu tạo lập hành lang pháp lý, tuy nhiên mạng lưới cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp còn hạn chế về quy mô và tính bao phủ.

Chương 2. Thực trạng hoạt động công tác xã hội cá nhân hỗ trợ tâm lý cho người cao tuổi tại trung tâm Orihome

Chương 2 mô tả tổ chức bộ máy và khảo sát thực nghiệm tại Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Orihome:

  • Đặc điểm cơ sở: Thành lập năm 2013 tại số 19 ngõ 139 phố Bằng Liệt (Hoàng Mai, Hà Nội), quy mô thiết kế 72 giường. Cung cấp 3 gói dịch vụ: FullCare (nội trú), DayCare (bán trú ban ngày) và HomeCare (chăm sóc tại gia đình). Đội ngũ nhân sự chăm sóc trực tiếp gồm 100% điều dưỡng viên tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học chuyên ngành Y – Dược.
  • Nhận thức và nhu cầu: Khảo sát cho thấy mức độ nhận thức về vai trò của công tác xã hội cá nhân ở người cao tuổi phân hóa rõ rệt: 10% đánh giá rất quan trọng, 23% đánh giá quan trọng, 37% đánh giá bình thường và 40% đánh giá không quan trọng. Tuy nhiên, sau khi được giải thích chuyên môn, có đến 97,5% người cao tuổi bày tỏ nguyện vọng muốn được nhân viên công tác xã hội hỗ trợ các vấn đề tâm lý, tình cảm.
  • Năng lực kết nối nguồn lực: Nhân viên xã hội và cộng tác viên tại trung tâm phần lớn chưa chủ động tìm kiếm các nguồn lực bên ngoài do áp lực khối lượng công việc chăm sóc thường nhật và thiếu hụt kỹ năng khai thác thông tin.
Nhóm yếu tố ảnh hưởng Tỷ lệ người cao tuổi đánh giá có ảnh hưởng (%)
1. Trình độ chuyên môn của nhân viên CTXH
- Trình độ chuyên môn, thâm niên, kỹ năng nghề nghiệp 100,0%
- Phẩm chất đạo đức nghề nghiệp 84,6%
2. Bản thân người cao tuổi
- Tình trạng sức khỏe thể chất và tâm lý 100,0%
- Yếu tố tuổi tác và tâm lý ngại thay đổi 86,5%
3. Điều kiện của Trung tâm Orihome
- Cơ sở vật chất và trang thiết bị 100,0%
- Năng lực đội ngũ cán bộ, điều dưỡng 94,3%
- Phương pháp quản lý và điều hành 90,4%
4. Yếu tố văn hóa - xã hội
- Định kiến xã hội, tập quán và rào cản tâm lý dưỡng lão 100,0%
5. Chính sách và pháp luật
- Chủ trương chính sách và kinh phí thực hiện 100,0%
- Trách nhiệm phối hợp của các bên liên quan 90,4%
- Công tác tổ chức và bố trí cán bộ 86,5%

Chương 3. Thực hành công tác xã hội cá nhân hỗ trợ tâm lý cho người cao tuổi tại trung tâm Orihome

Chương 3 trình bày hai nội dung chính: đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ và triển khai thực nghiệm tiến trình can thiệp một ca cụ thể.

  • Hệ thống giải pháp đề xuất:

    • Truyền thông: Đa dạng hóa các kênh thông tin đại chúng, mạng xã hội và truyền thông trực tiếp qua các cấp Hội Người cao tuổi nhằm giảm định kiến xã hội về việc an dưỡng tại trung tâm.
    • Đào tạo nhân lực: Tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu về kỹ năng thực hành công tác xã hội trực quan cho đội ngũ nhân viên và cộng tác viên.
    • Cải thiện cơ sở vật chất và quản lý: Đầu tư trang thiết bị phục hồi chức năng, sửa chữa phòng ở xuống cấp; xây dựng quy trình tiếp nhận, chăm sóc và bộ tiêu chuẩn dịch vụ rõ ràng; duy trì các cuộc họp dân chủ định kỳ tháng/quý.
    • Tổ chức mạng lưới: Thí điểm thành lập bộ phận công tác xã hội tại trạm y tế phường Hoàng Liệt và các cơ sở y tế quận Hoàng Mai để làm đầu mối kết nối dịch vụ.
    • Chính sách và pháp luật: Sửa đổi Nghị định 136/2013/NĐ-CP theo hướng tăng mức chuẩn trợ cấp và mở rộng diện thụ hưởng; sửa đổi Thông tư 07/2013/TT-BLĐTBXH nhằm nâng cao phụ cấp cho cộng tác viên xã hội; xây dựng Luật Công tác xã hội và đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ bảo trợ.
  • Thực hành can thiệp ca (Case Work):

    • Thông tin thân chủ: Bà Đ.C, nữ, sinh năm 1937 (87 tuổi), quê quán tại Linh Đàm, Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội; trình độ văn hóa hết cấp 3; nguyên là Bí thư Đoàn.
    • Tình trạng: Thể chất mắc bệnh xương khớp; tinh thần rơi vào trạng thái khủng hoảng tâm lý, buồn chán, thu mình, hay cáu gắt và né tránh giao tiếp sau biến cố chồng qua đời vì tai nạn giao thông và được hai người con (con trai công tác tại Ngân hàng Trung ương, con gái đã nghỉ hưu) gửi vào Trung tâm Orihome do công việc bận rộn.
    • Thực hiện bước tiếp nhận: Nhân viên công tác xã hội thiết lập mối quan hệ đồng cảm, tạo dựng niềm tin ban đầu thông qua kỹ năng lắng nghe tích cực, tôn trọng và tạo môi trường trò chuyện cởi mở để thân chủ bộc bạch cảm xúc.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu thực tế:

    • Định lượng hóa mức độ tác động của 5 nhóm yếu tố (chuyên môn nhân sự, sức khỏe/tâm lý người cao tuổi, cơ sở vật chất, định kiến văn hóa và cơ chế chính sách) đối với hoạt động công tác xã hội cá nhân tại một cơ sở dưỡng lão ngoài công lập.
    • Khẳng định khoảng trống giữa nhu cầu được hỗ trợ tâm lý rất lớn (97,5%) và mức độ tiếp cận dịch vụ thực tế còn hạn chế do đội ngũ nhân sự chủ yếu tập trung vào chăm sóc y tế, thiếu vắng nhân viên công tác xã hội chuyên trách.
    • Thực nghiệm bước đầu tiến trình can thiệp ca 6 bước đối với người cao tuổi bị khủng hoảng tâm lý sau biến cố gia đình.
  • Đóng góp về mặt lý luận:

    • Hệ thống hóa khung lý thuyết hệ thống sinh thái và thuyết nhu cầu Maslow trong bối cảnh thực hành công tác xã hội với người cao tuổi tại Việt Nam.
    • Bổ sung tài liệu nghiên cứu về các mô hình cơ sở dưỡng lão tư nhân hoạt động theo hình thức tự nguyện và thu phí.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn:

    • Cung cấp dữ liệu thực chứng phục vụ công tác quản lý và cải tiến quy trình chăm sóc tinh thần tại Trung tâm Orihome.
    • Đề xuất lộ trình xây dựng mạng lưới công tác xã hội liên thông giữa cơ sở chăm sóc tập trung với trạm y tế và chính quyền cấp cơ sở tại địa bàn phường Hoàng Liệt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:

    • Dung lượng mẫu khảo sát định lượng nhỏ ($n = 20$), chỉ giới hạn trong phạm vi một trung tâm dưỡng lão ngoài công lập tại Hà Nội do quy mô cơ sở và tình trạng suy giảm nhận thức của một bộ phận người cao tuổi.
    • Thời gian nghiên cứu ngắn (từ tháng 12/2023 đến tháng 02/2024), chưa thể theo dõi và lượng giá kết quả can thiệp ca trong dài hạn sau khi kết thúc tiến trình công tác xã hội.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:

    • Mở rộng phạm vi khảo sát, so sánh đối chứng giữa mô hình chăm sóc người cao tuổi công lập và ngoài công lập tại nhiều địa phương.
    • Nghiên cứu sâu về các mô hình can thiệp nhóm và quản lý trường hợp chuyên biệt dành cho người cao tuổi mắc các rối loạn tâm lý mạn tính hoặc sa sút trí tuệ.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:

    • Sinh viên và học viên chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Tâm lý học lâm sàng và Quản trị an sinh xã hội.
    • Đội ngũ cán bộ quản lý, điều dưỡng viên và nhân viên chăm sóc tại các viện dưỡng lão, trung tâm bảo trợ xã hội công lập và tư nhân.
    • Cán bộ làm công tác văn hóa – xã hội, y tế cơ sở và các cấp Hội Người cao tuổi tại địa phương.
  • Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật:

    • Bảng tổng hợp số liệu thực chứng về các yếu tố tác động đến hoạt động công tác xã hội cá nhân tại Chương 2.
    • Khung tiến trình 6 bước và kỹ năng tiếp cận thân chủ là người cao tuổi khủng hoảng tâm lý tại Chương 3.
    • Đề xuất chính sách chi tiết liên quan đến việc sửa đổi Nghị định 136/2013/NĐ-CP và xây dựng Luật Công tác xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Khách thể khảo sát và thân chủ can thiệp trong khóa luận gồm những ai? Khách thể can thiệp ca trực tiếp là bà Đ.C (87 tuổi, an dưỡng tại Trung tâm Orihome). Khách thể khảo sát bảng hỏi gồm 20 người cao tuổi đủ năng lực hành vi tại trung tâm. Khách thể phỏng vấn mở rộng gồm 05 thân nhân, 05 cán bộ/kiểm huấn viên công tác xã hội, 03 điều dưỡng viên và 03 lãnh đạo địa phương.

2. Quy mô và các loại hình dịch vụ hiện có tại Trung tâm Orihome là gì? Trung tâm Orihome có quy mô 72 giường bệnh với hệ thống phòng từ 1 đến 5 giường. Đơn vị cung cấp 3 gói dịch vụ chính: FullCare (chăm sóc nội trú dài hạn), DayCare (chăm sóc bán trú ban ngày) và HomeCare (chăm sóc hỗ trợ tại nhà).

3. Những yếu tố nào được 100% người cao tuổi khảo sát khẳng định có ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội? Các yếu tố nhận được 100% ý kiến đồng thuận gồm: (1) Trình độ chuyên môn, kỹ năng của nhân viên công tác xã hội; (2) Tình trạng sức khỏe và tâm lý của bản thân người cao tuổi; (3) Cơ sở vật chất của trung tâm; (4) Yếu tố văn hóa, phong tục, định kiến xã hội; (5) Chủ trương chính sách và kinh phí thực hiện.

4. Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng tâm lý của thân chủ Đ.C là gì? Bà Đ.C bị khủng hoảng tâm lý, buồn chán và hay cáu gắt bắt nguồn từ sự suy giảm thể chất (bệnh xương khớp), sang chấn tâm lý sau khi chồng mất do tai nạn giao thông và cảm giác hụt hẫng, cô đơn khi con cái bận rộn công việc gửi bà vào trung tâm dưỡng lão.

5. Tác giả đã đề xuất các giải pháp chính sách pháp luật cụ thể nào? Tác giả kiến nghị sửa đổi Nghị định 136/2013/NĐ-CP (nâng mức trợ cấp xã hội, mở rộng diện tiếp nhận người cao tuổi), sửa đổi Thông tư 07/2013/TT-BLĐTBXH (tăng tiêu chuẩn và phụ cấp cho cộng tác viên xã hội cấp xã/phường), từng bước xây dựng Luật Công tác xã hội và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xã hội hóa dịch vụ chăm sóc người cao tuổi.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã phản ánh toàn diện thực trạng đời sống tâm lý và nhu cầu hỗ trợ công tác xã hội cá nhân của người cao tuổi tại Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Orihome. Thông qua việc kết hợp các khung lý thuyết sinh thái, thuyết nhu cầu Maslow với các phương pháp điều tra thực nghiệm và thực hành ca, tác giả đã làm rõ các rào cản về chuyên môn, cơ sở vật chất và định kiến văn hóa đang ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Các giải pháp và tiến trình can thiệp được đề xuất trong công trình mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu hữu ích cho việc nâng cao chất lượng chăm sóc tinh thần người cao tuổi tại các cơ sở dưỡng lão ngoài công lập.