Chương 1: Cơ sở lý thuyết về công tác truyền thông cho các doanh nghiệp và Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) Chương 2: Phân tích thực trạng công tác truyền thông cho các doanh nghiệp về Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) tại Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Nguyễn Hoàng Thắng Luận văn Thạc sỹ kỹ thuật Chương 3: Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác truyền thông về Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) tại Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Nguyễn Hoàng Thắng Luận văn Thạc sỹ kỹ thuật CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP VÀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ CHIẾN LƢỢC XUYÊN THÁI BÌNH DƢƠNG (TPP) 1. Khái niệm về truyền thông Ngay từ thủa xa xưa, khi xuất hiện loài người thì con người với tư cách là một cá nhân trong cộng đồng đã có nhu cầu giao tiếp với các cá nhân khác nhằm trao đổi thông tin, tăng cường hiểu biết, trao đổi kinh nghiệm và duy trì các quan hệ xã hội. Hoạt động giao tiếp ấy chính là truyền thông. Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau [7].
Còn theo Từ điển bách khoa trực tuyến Wikipedia thì Truyền thông (từ commūnicāre Latin, có nghĩa là "chia sẻ" ) là hoạt động có mục đích trao đổi thông tin giữa hai hoặc nhiều người tham gia để truyền tải hoặc nhận được thông tin có ý nghĩa thông qua một hệ thống chia sẻ các dấu hiệu và các quy tắc ký hiệu. Các bước cơ bản của truyền thông gồm: sự hình thành mục đích truyền thông, nội dung thông điệp, mã hóa thông điệp, truyền tín hiệu, tiếp nhận tín hiệu, giải mã thông điệp và cuối cùng là sự giải thích thông điệp bởi người nhận [37]. Tóm lại có thể hiểu, truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng xã hội [4,13]. Cách hiểu này muốn nhấn mạnh truyền thông là quá trình liên tục chứ không phải một việc nhất thời trong khuôn khổ thời gian hạn hẹp, và kết quả của truyền thông sẽ không chỉ dừng ở “sự hiểu biết lẫn nhau” giữa các thực thể tham gia quá trình truyền thông mà còn tiến tới “sự thay đổi trong hành động và nhận thức”.
Sự thay đổi này phải phù hợp với nhu cầu phát triển của đối tượng. Cụ thể nếu áp dụng trong truyền thông cho doanh nghiệp thì nếu truyền thông không gắn với nhu cầu 1 Nguyễn Hoàng Thắng Luận văn Thạc sỹ kỹ thuật của doanh nghiệp thì sẽ không đạt hiệu quả. Như vậy về bản chất, truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông. Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều ấy có thể được hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau.
Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết… giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra. Quá trình truyền thông vì vậy có thể chỉ kết thúc khi đã đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết,… giữa chủ thể và đối tượng truyền thông. Vậy có thể nói mục đích của việc truyền thông cho doanh nghiệp chính là nhằm thay đổi thái độ, nhận thức hành vi của doanh nghiệp. Các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông là: nguồn, thông điệp, kênh truyền thông, người nhận, phản hồi và nhiễu.
Nguồn là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông, mang nội dung thông tin trao đổi với người hay nhóm người khác. Thông điệp chính là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát tới đối tượng tiếp nhận. Kênh truyền thông là các phương tiện, con đường, cách thức chuyển tải thông điệp từ nguồn tới đối tượng tiếp nhận. Người nhận là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp trong quá trình truyền thông.
Phản hồi là thông tin ngược, là dòng chảy của thông điệp từ người nhận trở về nguồn phát. Đây là thước đo hiệu quả của quá trình truyền thông. Nhiễu là yếu tố gây sai lệch thông tin, thường không được dự tính trước trong quá trình truyền thông, ví dụ như tiếng ồn, tin đồn, sai sót kỹ thuật,… Bên cạnh các yếu tố chính như trên, hiệu lực và hiệu quả của quá trình truyền thông cũng là những điểm quan trọng cần chú ý. Hiệu lực có thể hiểu là khả năng gây ra và thu hút sự chú ý cho công chúng – nhóm đối tượng truyền thông.
Hiệu quả là những hiệu ứng xã hội và nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng – nhóm đối tượng do truyền thông tạo ra, phù hợp với mong đợi của nhà truyền thông. Hiệu lực và hiệu quả có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau [4,14]. 2 Nguyễn Hoàng Thắng Luận văn Thạc sỹ kỹ thuật Truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề của đời sống xã hội. Truyền thông góp phần tuyên truyền đường lối, chính sách của Nhà nước, xây dựng hình ảnh về đất nước con người, cung cấp thông tin nhanh nhất trên thế giới và trong nước, phổ biến kiến thức, giáo dục,.
Vai trò của truyền thông vô cùng quan trọng. Riêng trong lĩnh vực kinh doanh của các doanh nghiệp, truyền thông có tác động lớn đến các nhóm đối tượng lớn như: - Đối với cơ quan chính quyền: giúp các cơ quan nhà nước đưa thông tin về các chính sách kinh tế, văn hóa xã hội, luật pháp đến doanh nghiệp và người dân; thăm dò lấy ý kiến của dư luận trước khi ban hành các văn bản pháp luật, điều chỉnh các chính sách quản lý của mình và tạo ra sự đồng thuận cao trong doanh nghiệp và người dân. Truyền thông làm cho chính sách của Nhà nước, những người thừa hành pháp luật được minh bạch hơn thông qua thông tin phản biện của các chuyên gia và các đối tượng trong xã hội; - Đối với công chúng: giúp cho người dân cập nhật thông tin kinh tế văn hóa xã hội, pháp luật trong và ngoài nước; giải trí và học tập,. Truyền thông ủng hộ cái đẹp và bài trừ cái xấu, giúp cho doanh nghiệp, người tiêu dùng phản hồi, nói lên tiếng nói của mình, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình; - Đối với nền kinh tế: truyền thông giúp doanh nghiệp tìm hiểu mọi thông tin liên quan đến các thị trường, quảng bá sản phẩm và dịch vụ cho người sử dụng; góp phần tạo ra nhu cầu tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ, giúp các doanh nghiệp tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người, phát triển nền kinh tế.
Truyền thông cũng là một ngành kinh tế quan trọng của một quốc gia, giải quyết công ăn việc làm và tạo ra giá trị cho nền kinh tế, là công cụ giúp cho người tiêu dùng phản ánh về chất lượng sản phẩm và dịch vụ của các nhà sản xuất [30]. Truyền thông là sản phẩm của xã hội con người, là yếu tố động lực kích thích sự phát triển của xã hội. Ngày nay, xã hội loài người không ngừng phát triển, đời sống của người dân không ngừng được nâng cao, đòi hỏi vai trò ngày một lớn hơn nữa của truyền thông trong việc cung cấp thông tin. Có thể nói truyền thông ngày càng có vai trò to lớn trong xã hội, ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống con người.
3 Nguyễn Hoàng Thắng Luận văn Thạc sỹ kỹ thuật 1. Những nội dung cơ bản của công tác truyền thông Dựa theo mô hình truyền thông chúng ta sẽ hình dung được cơ bản của công tác truyền thông. Có thể nói việc xác định mô hình truyền thông phù hợp có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi chiến dịch truyền thông bởi nó sẽ quyết định phương hướng và cách thức tiếp cận đối tượng. Khái niệm mô hình truyền thông Mô hình truyền thông là những bản vẽ, các bảng, biểu đồ, lược đồ, sơ đồ, các hình tượng…được sử dụng để quy những ý kiến phức tạp về cách biểu đạt mang tính chất đồ họa, từ đó cho phép chúng ta có cách nhìn nhận sâu sắc hơn, ở nhiều góc độ khác nhau với một khái niệm rất phức tạp: truyền thông” [4,25].
Mô hình truyền thông là lý thuyết được mã hóa thành các bảng, biểu, sơ đồ để thực hiện một chiến dịch truyền thông trong thực tế. Trong một chiến dịch truyền thông có rất nhiều thành tố tham gia và có sự tác động qua lại lẫn nhau. Do đó cần phải sắp xếp các thành tố đó một cách khoa học logic để chúng ta có thể hình dung tổng quát cả quá trình truyền thông. Những người làm công tác truyền thông cần phải nghiên cứu, đánh giá được ý nghĩa của từng thành tố trong mô hình truyền thông, từ đó tìm ra phương pháp, cách thức tác động hợp lý nhằm tăng cường hiệu quả công tác truyền thông.
Trong các mô hình truyền thông trên thế giới có hai mô hình tiêu biểu đại diện cho từng thời kì phát triển của truyền thông. Đó là mô hình truyền thông một chiều của Nhà xã hội học người Mỹ Harold Lasswell, mô hình phù hợp với điều kiện lịch sử khi phương tiện truyền thông không có khả năng thiết lập kênh phản hồi trực tiếp. Và mô hình thứ hai là mô hình truyền thông hai chiều của Claude Shannon, mô hình ra đời khi các phương tiện, cách thức mới cho phép thiết lập quan hệ hai chiều liên tục trực tiếp giữa nguồn phát thông điệp và đối tượng tiếp nhận. Mô hình truyền thông Lasswell Mô hình truyền thông một chiều của Lasswell do Nhà xã hội học Mỹ - ông 4 Nguyễn Hoàng Thắng Luận văn Thạc sỹ kỹ thuật Lasswell đưa ra từ năm 1948 (Hình 1.
Ta có thể tóm tắt mô hình truyền thông Lasswell qua 5 câu hỏi “Ai nói? Nói thông điệp gì? Bằng kênh nào? Cho ai? Hiệu quả như thế nào?” Hình 1.