CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ DỰ ÁN FDI VÀ CHUẨN BỊ ĐẦU TƯ CỦA DỰ ÁN FDI I. Lí luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài và dự án FDI 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài: 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài: Trong xu hướng toàn cầu hóa, nhất thể hóa nền kinh tế thế giới hiện nay, hoạt động thương mại quốc tế ngày càng phát triển sâu, rộng.
Nếu như trước đây, hoạt động thương mại quốc tế chỉ bao gồm xuất khẩu hàng hóa thì hiện nay hoạt động này đã được mở rộng sang cả hoạt động, bảo hiểm, tài chính…Trong đó, đầu tư nước ngoài là sự di chuyển các nguồn lực từ nước này sang nước khác để tiến hành hoạt động đầu tư nhằm tìm kiếm lợi ích hữu hình hay vô hình. Về bản chất, đây là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa, cùng hỗ trợ và bổ sung cho nhau trong quá trình chiếm lĩnh thị trường của các tập đoàn, công ty đa quốc gia hay xuyên quốc gia hiện nay. Theo định nghĩa và phân loại trong “Tài liệu hướng dẫn về Cán cân Thanh toán” của quỹ tiền tệ quốc tế IMF (International Monetary Fund), đầu tư nước ngoài của tư nhân được chia làm 3 loại: đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp và phương thức đầu tư khác. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, FDI) là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác.
Quyền sở hữu này phải tối thiểu là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI. Cũng theo hướng trên, cách định nghĩa của OECD lại đưa ra một mức chuẩn về tỉ lệ góp vốn: “một doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một doanh nghiệp liên doanh hoặc không liên doanh trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu tối thiểu là 10% cổ phần phổ thông hoặc 15% quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt trong hoạt - Khoa: Kinh tế đầu tư - Luận văn tốt nghiệp động đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là quyền kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải mọi quốc gia đều sử dụng ngưỡng 10% để xây dựng định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Bởi vậy các số liệu thống kê lượng vốn FDI của các tổ chức khác nhau có thể không giống nhau. Theo Luật đầu tư 2005 của Việt nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt nam vốn bằng tiền và tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư. Như vậy, xét một cách chung nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế trong đó nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp bỏ vốn và tham gia tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh dự án FDI tại một quốc gia khác với quốc gia sở tại của nhà đầu tư. FDI sẽ tạo thành một mối quan hệ lâu dài giữa một công ty chủ quản ( người đầu tư trực tiếp) và một công ty phụ thuộc ( doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) đặt tại một quốc gia khác với quốc gia của công ty chủ quản.
Công ty chủ quản không nhất thiết phải kiểm soát toàn bộ hoạt động của công ty phụ thuộc (trong trường hợp công ty chủ quản không chiếm đa số cổ phiếu của công ty phụ thuộc) và phần FDI chỉ tính trong phạm vi tỉ lệ sở hữu của công ty phụ thuộc. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài: Có 2 hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài phổ biến: - Đầu tư mới – Greenfield Investment (thành lập mới doanh nghiệp liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài) - Mua lại và sáp nhập –Merger & Acquisition (mua lại và sáp nhập một doanh nghiệp hiện có hoặc mua cổ phiếu của các công ty cổ phần hoặc đã được cổ phần hoá) Ở nhiều quốc gia, hình thức mua lại và sáp nhập là một hình thức quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, hình thức này chưa phổ biến ở Việt Nam do những quy định hạn chế cổ phần nước ngoài trong doanh nghiệp nội địa. Cùng với những chính sách cải cách đầu tư đang trong giai đoạn bắt đầu được thực thi, mua lại và sáp nhập có thể trở thành hình thức quan trọng trong đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam những năm tới.
- Khoa: Kinh tế đầu tư - Luận văn tốt nghiệp 2. Khái niệm dự án FDI: Để có thể tiến hành hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, các tổ chức kinh tế hay cá nhân nước ngoài cần phải tìm hiểu về các yếu tố của nước mà mình dự định bỏ vốn: môi trường đầu tư, thị trường… để có quyết định đầu tư. Muốn vậy, họ phải có chương trình, kế hoạch cụ thể cho hoạt động của mình trong một thời gian nhất định. Điều này được thể hiện thông qua việc các nhà đầu tư nước ngoài soạn thảo dự án đầu tư và tiến hành theo các thủ tục pháp lý nhất định của nước nhận đầu tư để được cấp giấy chứng nhận đầu tư hay các nhà đầu tư nước ngoài phải tiến hành đầu tư thông qua các dự án, gọi là dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (dự án FDI).
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về dự án FDI tùy theo góc độ tiếp cận. Nếu xét về mặt hình thức, dự án FDI là một tập hồ sơ, tài liệu do nhà đầu tư nước ngoài trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các kế hoạch hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài tại nước nhận đầu tư trong tương lai nhằm đạt được một mục tiêu nhất định. Nếu xét về mặt nội dung, dự án FDI bao gồm toàn bộ các hoạt động có liên quan tới nhau, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ về thời gian, địa điểm tiến hành thông qua việc sử dụng các nguồn lực hiện có để tạo ra các kết quả nhất định trong tương lai đi kèm với thực hiện được các mục tiêu đã định của dự án. Như vậy, một cách chung nhất, có thể hiểu dự án FDI là dự án đầu tư do các tổ chức kinh tế và cá nhân ở nước ngoài tự mình hoặc cùng các tổ chức kinh tế hay cá nhân ở nước tiếp nhận đầu tư bỏ vốn đầu tư và trực tiếp quản lý, điều hành để thu lợi nhuận trong kinh doanh.
Vai trò của dự án FDI: Các dự án FDI được tiến hành tại nước nhận đầu tư tạo ra các tác động to lớn đối với cả nhà đầu tư nước ngoài lẫn nước tiếp nhận đầu tư - Khoa: Kinh tế đầu tư - Luận văn tốt nghiệp 2. Với nhà đầu tư nước ngoài: Xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các tập đoàn kinh tế trên thế giới đòi hỏi họ phải luôn tìm cách đổi mới công nghệ và mục tiêu quan trọng nhất đối với họ là giảm tối đa giá thành cũng như mở rộng thị trường sản phẩm. Thực hiện dự án FDI tại nước có thị trường rộng lớn, nguồn nguyên liệu đầu vào dồi dào, chi phí rẻ là phương tiện hữu hiệu đối với họ để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đồng thời, thông qua thực hiện dự án FDI, nhà đầu tư nước ngoài có cơ hội để mở rộng thị trường sản phẩm của mình, được hưởng các ưu đãi của nước nhận đầu tư về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu… của nước nhận đầu tư nhằm làm giảm giá thành sản xuất, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, từ đó làm tăng lợi nhuận.
Bên cạnh đó, thực hiện dự án FDI tại nước tiếp nhận đầu tư cũng giúp cho nhà đầu tư nước ngoài tránh hàng rào thuế quan khi xuất khẩu trực tiếp sản phẩm sang nước nhận đầu tư, đồng thời tiết kiệm chi phí vận chuyển sản phẩm tới thị trường tiêu thụ. Ngoài ra, thông qua chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI họ có thể kéo dài chu kì sống của các công nghệ đã cũ đối với họ nhưng với nước nhận đầu tư, đó vẫn là công nghệ mới, tạo ra năng suất lao động cao hơn. Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt quan tâm tới việc đưa ra một dự án khả thi, đây là căn cứ để họ quyết định bỏ vốn đầu tư cũng như là cơ sở để họ trình lên cơ quan có thẩm quyền tại nước tiếp nhận đầu tư để xin cấp giấy chứng nhận đầu tư, được hưởng các ưu đãi, được cấp đất, cấp phép xây dựng trong giai đoạn thực hiện dự án…Ngoài ra, đây cũng là căn cứ để họ thuyết phục các tổ chức tín dụng tài trợ vốn cho dự án của mình thông qua chứng minh tính khả thi của dự án về mặt tài chính. Với nước nhận đầu tư: Thông qua tiếp nhận các dự án FDI, các nước tiếp nhận đầu tư có thể gia tăng tổng sản phẩm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, đồng thời nâng cao trình độ công nghệ, tạo việc - Khoa: Kinh tế đầu tư - Luận văn tốt nghiệp làm…Bên cạnh đó, việc thực hiện các dự án FDI cũng tạo ra tác động tràn đối với các khu vực kinh tế trong nước.
Thông qua liên doanh, liên kết, hợp tác trong cung cấp đầu vào cho các dự án FDI, các doanh nghiệp trong nước có thể học hỏi được kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản phẩm của mình, các tổ chức tín dụng trong nước: ngân hàng, bảo hiểm…cũng có thể tham gia tài trợ vốn hay cung cấp dịch vụ của mình cho dự án FDI. Thực tế hiện nay cho thấy, các nước đang phát triển đang cạnh tranh với nhau trong thu hút nguồn vốn FDI vào nước mình thông qua những chính sách ưu đãi, xúc tiến đầu tư từ chính phủ các nước này, điều đó khẳng định vai trò quan trọng của nguồn vốn FDI nói chung cũng như việc thực hiện các dự án FDI nói riêng trong nền kinh tế của mỗi nước. Để có thể tiến hành đầu tư vào nước sở tại, nhà đầu tư nước ngoài phải qua bước nghiên cứu tìm hiểu cơ hội đầu tư: nghiên cứu thị trường, chính sách pháp luật…để từ đó lập ra báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và báo cáo nghiên cứu khả thi trình lên cơ quan có thẩm quyền của nước nhận đầu tư để xin giấy chứng nhận đầu tư. Đây cũng là căn cứ để nước nhận đầu tư xem xét tính khả thi của dự án.