Chương 1: Cơ sở khoa học của công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Chương 2: Thực trạng công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn Huyện Thường Tín, TP Hà Nội. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn huyện Thường Tín, Hà Nội. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG TÁC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT 1.
Một số khái niệm và sự cần thiết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 1. Khái niệm, vai trò, đặc điểm của đất đai 1. Khái niệm về đất đai Theo nhà thổ nhưỡng học người Nga Đacutraep (1879): “Đất là vật thể tự nhiên được hình thành qua một thời gian dài do kết quả tác động tổng hợp của 5 yếu tố: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian” Các loại đá và khoáng chất cấu tạo nên vỏ trái đất dưới tác động của khí hậu, sinh vật, địa hình trải qua một thời gian nhất định dần dần bị vụn nát và cùng với xác hữu cơ sinh ra đất. Chính con người khi tác động vào đất đã làm thay đổi nhiều tính chất đất và nhiều khi tạo ra một loại đất mới chưa từng có trong tự nhiên (ví dụ như đất trồng lúa nước).
Chất lượng của đất phụ thuộc vào những yếu tố hình thành nên đất đó là đá mẹ, khí hậu, cỏ cây và sinh vật sống trên và trong lòng đất, đặc biệt là phụ thuộc vào tác động của con người đối với đất đai. Định nghĩa của tổ chức FAO thì: “Đất là một tổng thể vật chất, bao gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó”. Như vậy, đất đai là một phạm vi không gian như một vật mang những giá trị theo ý niệm của con người. Theo Luật đất đai Việt Nam (1993) thì: “Đất đai vừa là một tài nguyên vừa là một tài sản quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phẩm lao động.
Đất còn là vật mang của các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái canh tác, đất là mặt bằng để phát triển nền kinh tế quốc dân”. Đúng vậy, bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có 6 đất, đất là địa điểm, là cơ sở hoạt động của các công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, các công trình phúc lợi, các cánh đồng để con người trồng trọt, chăn nuôi…Ngược lại trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, con người có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đất đai nhằm khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên này vì lợi ích của mình. Những tác động đó có thể làm thay đổi tính chất sử dụng đất đai, từ đất hoang sơ thành đất canh tác hoặc đất đai từ sử dụng mục đích này sang mục đích khác. Tất cả những tác động ấy của con người làm cho đất đai vốn dĩ là một sản phẩm tự nhiên trở thành một sản phẩm của lao động.
Đất đai gắn liền với khí hậu, môi trường trên phạm vi toàn cầu cũng như từng vùng, từng miền lãnh thổ. Qua thời gian, khí hậu cũng trải qua nhiều biến động do những nguyên nhân tự nhiên hoặc do tác động của con người. Trong quá trình chinh phục và cải tạo thiên nhiên, con người ngày càng can thiệp vào quá trình biến đổi của tự nhiên. Biến đổi khí hậu có tác động mạnh mẽ đến các hệ sinh thái của đất liền, nhất là đối với cây trồng.
Như vậy việc sử dụng hợp lý đất đai ngoài ý nghĩa về kinh tế còn có ý nghĩa về bảo vệ, cải tạo và biến đổi môi trường. Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, người ta rất chú ý đến tác động của môi trường trong quá trình hoạt động sản xuất của con người, trong đó sử dụng khai thác đất đai là yếu tố vô cùng quan trọng. Vai trò của đất đai a) Đất đai là một tư liệu sản xuất Đất đai là là một sản phẩm của tự nhiên được sinh ra trước con người, là điều kiện đầu tiên và là nền tảng tự nhiên của bất kỳ một quá trình sản xuất nào. Như Wiliam Petti đã nói: “Lao động chỉ là cha của cải vật chất, còn đất là mẹ” Chúng ta đều biết rằng, không có đất thì không thể có sản xuất, cũng như không có sự tồn tại của con người.
Quá trình lao động diễn ra khi có đủ 3 yếu tố: +Đối tượng lao động: Là đối tượng để lao động tác động lên trong quá trình lao động; +Tư liệu lao động: là phương tiện hay công cụ lao động được lao động sử dụng để tác động lên đối tượng lao động; 7 + Hoạt động hữu ích của con người: chính là lao động hay con người có khả năng sản xuất, có kỹ năng lao động và biết sử dụng phương tiện, công cụ lao động để sản xuất ra của cải vật chất. Như vậy, quá trình lao động chỉ có thể bắt đầu và hoàn thiện được khi có con người cộng với điều kiện vật chất (bao gồm cả đối tượng lao động và công cụ hay phương tiện lao động). Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tác động như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất,vv…),vừa là phương tiện lao động (cho công nhân nơi làm việc, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc,vv…). Tuy nhiên, đất đai là “tư liệu sản xuất đặc biệt”.
Nó khác với các tư liệu sản xuất khác ở những điểm sau: - Đặc đểm tạo thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người; là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiên của lao động. Chỉ khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, dưới tác động của lao động đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất. Trong khi đó, các tư liệu sản xuất khác là kết quả của lao động có trước của con người (do con người tạo ra). - Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích đất bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên bề mặt địa cầu.
Các tư liệu sản xuất khác có thể tăng về số lượng, chế tạo lại tùy theo nhu cầu của xã hội. - Tính không đồng nhất: đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng các chất dinh dưỡng, các tính chất lý hóa… - Tính không thay thế: Thay thế đất bằng tư liệu khác là việc không thể làm được. Các tư liệu sản xuất khác, tùy thuộc vào mức độ phát triển của lực lượng sản xuất có thể được thay thế bằng tư liệu sản xuất khác hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế hơn. - Tính cố định vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định vị trí trong sử dụng - Tính vĩnh cửu: Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu (không lệ thuộc vào tác động phá hoại của thời gian).
Nếu biết sử dụng hợp lý đặc biệt là trong sản xuất 8 nông – lâm nghiệp, đất sẽ thong bị phá hỏng, ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất (độ phì nhiêu) cũng như hiệu quả sử dụng đất. Khả năng tăng sức sản xuất của đất tùy thuộc vào phương thức sử dụng là tính chất có giá trị đặc biệt, không tư liệu sản xuất nào có được. Các tư liệu sản xuất khác đều bị hư hỏng dần, hiệu ích sử dụng giảm và cuối cùng bị loại khỏi quá trình sản xuất. Đất đai là một tư liệu sản xuất cực kỳ quan trọng đối với con người.
Sự quan tâm chú ý đứng mức trong việc quản lý và sử dụng đất đai sẽ làm cho sản lượng thu được từ mỗi mảnh đất không ngừng tăng lên. b) Đất đai có vai trò đặc biệt trong nông nghiệp Với nông nghiệp đất không chỉ là cơ sở không gian, không chỉ là điều kiện vật chất cho sự tồn tại của ngành sản xuất này, mà đất còn là yếu tố tích cực của sản xuất. Quá trình sản xuất nông nghiệp có liên quan chặt chẽ với đất, phụ thuộc nhiều vào độ phì nhiêu của đất, phụ thuộc vào các quá trình sinh học tự nhiên. Trong nông nghiệp, ngoài vai trò cơ sở không gian, đất còn có hai chức năng đặc biệt quan trọng đó là: - Đất là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình sản xuất - Đất tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng nước, không khí và các chất dinh dưỡng cần thiết để cây trồng sinh trưởng và phát triển.
Như vậy đất gần như trở thành một công cụ sản xuất. Năng suất và chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào độ phì nhiêu của đất. Trong số tất cả các loại tư liệu sản xuất dùng trong nông nghiệp, chỉ có đất mới có chức năng này. Chính vì vậy, phải nói rằng đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt trong nông nghiệp.
c) Đất đai đối với sự phát triển các ngành kinh tế Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt. Tuy nhiên đối với từng ngành cụ thể trong nền kinh tế quốc dân, đất đai cũng có những vị trí vai trò khác nhau. 9 Trong ngành công nghiệp (trừ ngành khai khoáng), đất đai làm nền tảng, làm cơ sở, làm địa điểm để tiến hành những thao tác, những hoạt động sản xuất kinh doanh. Muốn xây dựng một nhà máy, trước hết phải có địa điểm, một diện tích đất đai nhất định, trên đó sẽ là nơi xây dựng các nhà xưởng để máy móc, kho tàng, bến bãi, nhà làm việc, đường xá đi lại trong nội bộ…Tất cả những cái đó là cần thiết trước tiên để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp đòi hỏi mở rộng quy mô xây dựng, các nhà máy mới tăng lên làm tăng số lượng diện tích đất đai dành cho yêu cầu này.