Chương 1 của luận án, tác giả tập trung mô tả các vấn đề liên quan đến lý do chọn đề tài như bối cảnh nghiên cứu, bao gồm bối cảnh lý thuyết và thực tiễn, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, bối cảnh và phương pháp nghiên cứu. Đồng thời tác giả cũng mô tả các đóng góp mới của luận án đối với lý thuyết và thực tiễn; giới thiệu thêm bố cục các chương của luận án.1 Bối cảnh nghiên cứu Với tiêu chí tối giản quy trình và loại bỏ các hao phí không đáng có, quản lý tinh gọn (QLTG) trở thành một định hướng quản lý quan trọng, đóng vai trò như một giải pháp hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn trong điều kiện hạn hẹp tài nguyên. Các phương pháp sản xuất tinh gọn sử dụng một số kỹ thuật như Just In Time (JIT), cải tiến liên tục, giảm thời gian và hàng tồn kho, cải tiến quy trình và loại bỏ chất thải để cải thiện sự hài lòng của khách hàng, nâng cao chất lượng, hiệu quả, và tính linh hoạt của tổ chức (Garza-Reyes, 2015). Nhiều nhà khoa học đã đưa ra các quan điểm và hướng tiếp cận với khái niệm này (Krafcik, 1988; Ballard và Tommelein, 2012; Garza-Reyes, 2015; Rafique và ctg, 2017; Jing và ctg, 2020).
Tuy nhiên, việc tiếp cận quản lý tinh gọn ở khía cạnh sản xuất lại hoàn toàn khác biệt. Ở bối cảnh sản xuất, việc tinh gọn hệ thống sản xuất hướng đến giảm thiểu hao phí phát sinh (Womack và ctg, 1990; Martı´nez-Jurado và Moyano-Fuentes, 2014). Ngược lại, với hoạt động ngoài sản xuất, QLTG lại được đặt trọng tâm vào khía cạnh chất lượng thay vì chi phí (Shah và Ward 2003, 2007). Đây là hạn chế về mặt lý thuyết mà nghiên cứu cần giải quyết để xác định một hướng tiếp cận tổng thể đối với khái niệm này.
Song song với QLTG, công nghệ hiện đang được phổ biến rộng rãi đến tất cả các cấp tổ chức (Nordin và Othman, 2014). Các phương pháp, hệ thống QLTG hiện tại phụ thuộc và chịu nhiều chi phối bởi các ứng dụng trên nền công nghệ thông tin (CNTT). Nhiều nghiên cứu đã nhận định rằng kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên được giải quyết thông qua một quá trình điều chỉnh liên tục (một khía cạnh của triết lý tinh gọn), có thể được tạo điều kiện bởi các khả năng thích nghi (Eikelenboom và de Jong, 2019) vốn có thể được tạo nên dựa vào việc áp dụng các 2 công nghệ hiện đại vào hoạt động. Các bằng chứng về mối quan hệ giữa CNTT, QLTG và hoạt động của doanh nghiệp được tìm thấy một cách rời rạc trong nhiều bối cảnh (Riezebos và Klingenberg, 2009; Li và ctg ,2019; Cai và ctg, 2019; Melián- Alzola, 2020).
Sự rời rạc này chính là hạn chế chính của chủ đề nghiên cứu về CNTT, tạo nên sự phân tán của cơ sở lý thuyết. Những nghiên cứu không liên kết về CNTT trong tổ chức đã phân mảng khái niệm này theo những hướng tiếp cận khác nhau, không có điểm chung. Điển hình như Cai và ctg (2019) đưa ra 5 thành phần CNTT trong một tổ chức, trong khi Melián-Alzola (2020) chỉ quan tâm đến hai thành phần. Từ đó, việc so sánh các hệ thống CNTT, đánh giá chung về CNTT trong tổ chức cần được xây dựng một nền tảng lý thuyết vững chắc hơn.
Về mặt thực tiễn, sự thành công của QLTG đã là chủ đề nghiên cứu gây tranh cãi khi vẫn tồn tại nhiều trường hợp triển khai thất bại mô hình hoạt động kinh doanh dựa trên triết lý này. Theo thống kê, có từ 60- 90% chương trình cải tiến quản lý theo hướng tinh gọn tại New Zealand thất bại (Pearce, 2019). Điều này đặt ra câu hỏi về việc QLTG có thể thành công hay không, phụ thuộc và chịu tác động bởi những yếu tố nào. Nghiên cứu về vấn đề thành công của triết lý tinh gọn, hầu hết các nhà nghiên cứu tin rằng sự thất bại của việc áp dụng QLTG là do các rào cản về văn hóa, quản lý, kỹ thuật và quá trình thực hiện thực tế (Rafique và ctg, 2017).
Mặt khác, dù nhận được sự ủng hộ từ nhiều nghiên cứu về sự tác động của các phương pháp tinh gọn đối với hoạt động thực tiễn nhưng lợi ích thực sự của tinh gọn vẫn rất khó có thể được định lượng (Bhasin, 2008). Đồng thời, trong bối cảnh của nền kinh tế chuyển đổi, hội nhập khu vực và thế giới, các lý thuyết về phát triển kinh tế nói chung và quản trị nói riêng có những đặc điểm riêng. Đặc biệt là bối cảnh khủng hoảng Covid - 19, những đổi thay sau khủng hoảng y tế, giãn cách xã hội, vai trò của CNTT trong kết nối sản xuất kinh doanh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Quản trị điều hành doanh nghiệp có sự thay đổi và phát triển nhanh chóng trong giai đoạn vừa qua, sản xuất từ quy mô lớn sang quy mô nhỏ, linh hoạt, từ tập trung quy mô lớn sang phân tán tận dụng ưu thế cạnh tranh ở từng mắt xích của chuỗi giá trị của quy trình sản xuất kinh doanh trên quy mô toàn cầu.
Tuy nhiên, quản trị điều hành của các doanh nghiệp tại Việt Nam nói chung và Tp. Hồ Chí Minh nói riêng còn bộc lộ nhiều hạn chế. Việc ứng dụng CNTT trong kết 3 nối, điều hành và quan điểm sản xuất tinh gọn vẫn chưa phổ biến. dẫn tới hiệu quả hoạt động, tính bền vững của các doanh nghiệp còn nhiều bất cập.
Bằng chứng là riêng trong năm 2019, có đến gần 90 ngàn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 20,2% so với năm 2018 (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2019). Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019) cả nước có 714.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó Tp. Hồ Chí Minh dẫn đầu với 228. Đồng thời, thành phố luôn là địa phương có nền kinh tế sôi động, phát triển bậc nhất.
Bằng chứng là năm 2019, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) Tp. Hồ Chí Minh đạt mức tăng trưởng lên đến 7,86% và đóng góp đến 22,27% cho GDP cả nước. Đây là một mức tăng trưởng và đóng góp cao khi mà tăng trưởng của cả nước chỉ đạt đến con số 7,02%. Với vị thế dẫn đầu của nền kinh tế, việc thực hiện các nghiên cứu tại bối cảnh Tp.
Hồ Chí Minh sẽ mang ý nghĩa khoa học và thực tế cao, mở rộng khả năng áp dụng và tính khái quát của kết quả nghiên cứu. Những lý do thực tiễn và lý luận đó đã nêu bật sự cần thiết đối với việc thực hiện nghiên cứu “Ảnh hưởng của mối quan hệ giữa công nghệ thông tin và quản lý tinh gọn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Trường hợp nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh” nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu tổng quát và cụ thể được trình bày tiếp theo sau đây.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là tìm hiểu mối quan hệ giữa CNTT, QLTG và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Dựa trên kết quả xác định mối quan hệ giữa các thành phần này, nghiên cứu sẽ đưa ra các hàm ý quản trị tương ứng nhằm hỗ trợ cho hoạt động của doanh nghiệp để cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể Dựa trên mục tiêu tổng quát, nghiên cứu xác định các mục tiêu cụ thể như sau: · Xác định chiều hướng tác động và mức độ tác động của công nghệ thông tin, quản lý tinh gọn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. · Xác định các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến công nghệ thông tin, quản lý tinh gọn.
4 · Xác định các thành phần của công nghệ thông tin và quản lý tinh gọn. · Đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.3 Câu hỏi nghiên cứu Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã được đặt ra, nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Cụ thể như sau: · Hướng tác động và mức độ tác động của công nghệ thông tin và quản lý tinh gọn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như thế nào? · Các nhân tố nào tác động đến công nghệ thông tin và quản lý tinh gọn và mức độ tác động của các nhân tố này như thế nào? · Công nghệ thông tin và quản lý tinh gọn cấu thành bởi những thành phần nào? · Những hàm ý quản trị nào là phù hợp để các doanh nghiệp có thể cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh? Toàn bộ quy trình nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã được đặt ra. Từ đó, tác giả cũng đồng thời đạt được mục tiêu nghiên cứu chính của luận án.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu cũng như trả lời một cách đầy đủ và thỏa đáng các câu hỏi nghiên cứu được đề ra, nghiên cứu xác định đối tượng nghiên cứu một cách cụ thể bao gồm: Kết quả hoạt động kinh doanh, Công nghệ thông tin, Quản lý tinh gọn và mối quan hệ giữa các nhân tố này.2 Đối tượng khảo sát Thông qua việc xác định đối tượng nghiên cứu, tác giả cũng đồng thời xác định được đối tượng khảo sát để thực hiện quá trình thu thập dữ liệu phục vụ cho giai đoạn nghiên cứu định lượng cụ thể là: Quản lý cấp trung đang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn Tp.
Hồ Chí Minh. Đối tượng phỏng vấn Phương pháp phỏng vấn được tác giả sử dụng trong một số bước của quy trình nghiên cứu. Phương pháp này được sử dụng với mục tiêu điều chỉnh mô hình và giả 5 thuyết nghiên cứu, đồng thời xác định thành phần thang đo các nhân tố tương ứng với hướng tiếp cận các khái niệm. Các chuyên gia được chọn mời phỏng vấn là các nhà quản lý cấp cao tại các doanh nghiệp, có kinh nghiệm làm việc và sẵn lòng chia sẻ quan điểm, sẵn lòng hỗ trợ thực hiện nghiên cứu.
Các chuyên gia được ưu tiên lựa chọn cho bước nghiên cứu phỏng vấn chỉ hướng đến các nhà quản lý doanh nghiệp, đang làm việc thực tế. Điều này giúp cho các phát hiện của giai đoạn nghiên cứu này mang tính thời sự và phù hợp với bối cảnh thực tiễn nghiên cứu. Đối tượng thảo luận nhóm Nhằm mục tiêu hoàn chỉnh thang đo trước khi thực hiện giai đoạn nghiên cứu định lượng, phương pháp thảo luận nhóm được luận án sử dụng để thực hiện mục tiêu này. Đối tượng được mời thảo luận nhóm trong giai đoạn này chỉ bao gồm quản lý cấp trung tại các doanh nghiệp.