Chương 1: Những vấn đề lý luận, pháp lý việc thực hiện pháp luật về công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh. Chương 2: Bối cảnh, thực trạng thực hiện pháp luật về công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bắc Kạn. Chương 3: Quan điểm, giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bắc Kạn. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG KHAI, MINH BẠCH TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1.
Khái niệm, sự cần thiết, ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật về công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh 1. Khái niệm thực hiện pháp luật Hiện nay, ở nước ta có rất nhiều định nghĩa khác nhau về THPL, như: Thực hiện pháp luật (THPL) là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật hay Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật [16, tr. Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Thị Hồi thì các khái niệm nêu trên vẫn chưa thể hiện được đầy đủ nhất nội hàm của khái niệm về THPL [6, tr.12-16], bởi lẽ không phải hành vi THPL nào cũng phải là một quá trình hoạt động, vì có những trường hợp THPL chỉ là những hành vi đơn lẻ (ví dụ: Hành vi dừng lại trước đèn đỏ khi đi đường); Không phải trong tất cả các trường hợp, chủ thể THPL đều nhằm mục đích đưa pháp luật vào cuộc sống, mà đa số các chủ thể đều nhằm thực hiện những mục đích riêng của mình, vì những hành vi hợp pháp được thực hiện trong trường hợp chủ thể chưa hoặc không nhận thức được tại sao phải làm như vậy hoặc do kết quả của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc do sợ bị áp dụng các biện pháp đó thì không thể coi là có mục đích đưa các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống. Trên cơ sở tính chất của hoạt động thực hiện các quy phạm pháp luật, khoa học pháp lý xác định THPL được tiến hành thông qua 04 hình thức cụ thể là: Tuân thủ pháp luật; thi hành (chấp hành) pháp luật; sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
Giữa các hình thức THPL có sự đan xen, không biệt lập nhau, trong đó: - Tuân thủ pháp luật là việc các chủ thể pháp luật kiềm chế không làm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những điều mà pháp luật có quy định cấm, tức là họ tuân thủ đúng các quy phạm pháp luật mang tính chất ngăn cấm thực hiện những hành vi nhất định. - Chấp hành pháp luật: là việc các chủ thể pháp luật bằng hành động tích cực thực hiện các quy phạm pháp luật giao nghĩa vụ bắt buộc. - Sử dụng pháp luật: là việc các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép). Những quy phạm pháp luật quy định quyền và tự do dân chủ của công dân được thực hiện ở hình thức này.
- Áp dụng pháp luật: là việc nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật ban hành các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể. Áp dụng pháp luật là hình thức THPL mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, bằng hoạt động tương ứng của các CQNN có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được nhà nước ủy quyền, nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể. Đối với nhà nước, THPL là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Trong nhà nước pháp quyền, trách nhiệm tổ chức THPL là trách nhiệm thường trực của nhà nước và phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của nhân dân.
Trong nhà nước pháp quyền, các biện pháp tổ chức THPL phải đáp ứng những nguyên tắc cơ bản của quyền con người, không được tùy tiện hoặc ngẫu nhiên, mà phải tuân theo các tiêu chuẩn đã định. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm THPL như sau: “Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Khái niệm công khai, minh bạch, thực hiện pháp luật về công khai, minh bạch Khái niệm công khai trong tiếng Anh là “Transparency”. Trong các từ điển tiếng Việt, có những định nghĩa ít nhiều khác nhau về “công khai”, song cơ bản 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được hiểu là "không giấu diếm, bí mật mà cho mọi người cùng biết" [25, tr.346], hoặc “là việc không giữ kín, mà để cho mọi người đều có thể biết” [23, tr.
Luật PCTN hợp nhất số 27/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCTN, có hiệu lực kể từ ngày 01/02/2013 (sau đây gọi tắt là Luật PCTN năm 2012) (đã sửa đổi, bổ sung Luật PCTN năm 2005 và 2007) quy định: “Công khai là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị công bố, cung cấp thông tin chính thức về văn bản, hoạt động hoặc về nội dung nhất định” (Khoản 2 Điều 2). Như vậy, công khai có thể được hiểu là: Trong tổ chức, hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước, mọi hoạt động của nhà nước phải được công bố hoặc phổ biến, truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và phương tiện khác, làm cho mọi người dân, các cơ quan, tổ chức có thể tiếp cận và biết được một cách dễ dàng. Trong thực tế, cụm từ “công khai” thường đi cùng và gắn liền với cụm từ “minh bạch”, song “minh bạch” có ý nghĩa rộng và sâu hơn, bao trùm “công khai”. Theo Từ điển tiếng Việt [23, tr.277, 815], minh bạch là “rõ ràng, rành mạch”, còn trong Luật PCTN năm 2012: “Minh bạch tài sản, thu nhập là việc kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai và khi cần thiết được xác minh, kết luận” (Khoản 2 điều 3).
Từ các quan niệm nêu trên, có thể khái quát rằng: CKMB là những thuật ngữ gần gũi, mặc dù có nội hàm rộng, hẹp khác nhau, song đều chỉ sự rõ ràng, trong sáng, không giấu diếm, thể hiện qua việc công bố, cung cấp thông tin, giải trình về một vấn đề nào đó. Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, công khai nghĩa là mọi hoạt động của nhà nước phải được công bố hoặc phổ biến, truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm cho mọi người dân, cơ quan, tổ chức khác có thể tiếp cận được các quyết định của nhà nước một cách dễ dàng. Minh bạch nghĩa là không những phải công khai mà còn phải trong sáng, không khuất tất, không rắc rối, không gây khó khăn cho công dân trong tiếp cận thông tin. Nếu như công khai vừa là nhiệm vụ, vừa là hoạt động cụ thể của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thì minh 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bạch bao hàm trạng thái mà người dân biết rõ, hiểu đúng bản chất nội dung đã được công khai.
Như vậy, CKMB trong quản lý nhà nước gắn với quyền của người dân trong việc tiếp cận những thông tin, tài liệu chính thức của các CQNN. Đó là trạng thái mà những thông tin liên quan đến hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) được công bố để công chúng biết và khả năng giải trình, làm rõ về những thông tin đó hoặc giải thích, làm rõ về hoạt động của các cơ quan QLNN theo quy định của pháp luật. Công khai và minh bạch có mối quan hệ mật thiết với nhau, công khai là một khía cạnh của minh bạch. Tuy nhiên, không phải cứ công khai là đảm bảo được minh bạch.
Nói cách khác, muốn có minh bạch thì mức độ công khai phải đầy đủ, rõ ràng để các tổ chức, công dân và các chủ thể quan tâm khác trong xã hội có thể biết và hiểu được những lý do tại sao chính phủ và các cơ quan trong hệ thống HCNN lại có quyết định hay thực hiện những hành động đó. Như vậy, công khai và minh bạch là 2 khái niệm gần nhau nhưng không đồng nhất. Công khai là đảm bảo thông tin được chia sẻ, ngược với công khai là bí mật và che giấu thông tin. Bí mật và che giấu thông tin sẽ làm cho việc tiếp cận thông tin trở nên khó khăn, phức tạp.
Minh bạch là đảm bảo sự rõ ràng, không chỉ đáp ứng được tính công khai (tức là sự sẵn sàng chia sẻ thông tin) mà còn đảm bảo khả năng tiếp cận được thông tin, sẵn sàng tham gia trao đổi một cách thẳng thắn, trung thực về quá trình ban hành các chính sách và quyết định. Minh bạch luôn gắn liền với trách nhiệm, đòi hỏi chính phủ và đội ngũ cán bộ, công chức phải công khai quá trình thực hiện công việc cho các bên quan tâm. Ở góc độ này, minh bạch có mối quan hệ chặt chẽ với trách nhiệm, vì có trách nhiệm mới có xu hướng công khai và đảm bảo các điều kiện cho công khai. Hiện tại ở Việt Nam, việc CKMB đòi hỏi phải đảm bảo nguyên tắc theo quy định tại Điều 4 Mục 1 Chương II Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/6/2013 như quy định danh mục bí mật nhà nước do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật về bí mật nhà nước không được bao gồm những nội dung bắt buộc phải công khai theo quy định tại các Điều 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 26a, 26b, 26c, 26d, 27, 28, 29, 30 và Điều 46a Luật PCTN.
Điều 5 của Nghị định 59 cũng quy định việc áp dụng hình thức công khai trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, đó là: “1.