Luận án tiến sĩ công giáo với dân tộc trong cuộc kháng chiến chống pháp 1945 1954 luận án pts lịch sử 62 22 54 05

Luận án tiến sĩ về vai trò công giáo với dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945-1954, nghiên cứu lịch sử chi tiết và sâu sắc.

2013

200
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CÔNG GIÁO VỚI DÂN TỘC TRONG ĐẤU TRANH GIÀNH VÀ GIỮ CHÍNH QUYỀN, CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN (1945-1946)

1.1. Khái quát về Công giáo với dân tộc trước năm 1945

1.1.1. Vài nét về lịch sử Công giáo Việt Nam trước năm 1930

1.1.2. Công giáo với dân tộc từ năm 1930 đến năm 1945

1.1.3. Công giáo với dân tộc - diễn biến và những sắc thái

1.1.4. Công giáo trong Cách mạng tháng Tám 1945

1.1.5. Công giáo với cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập, chuẩn bị kháng chiến

2. CHƯƠNG 2: CÔNG GIÁO VỚI DÂN TỘC GIAI ĐOẠN KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC (1946-1954)

2.1. Công giáo với dân tộc những năm đầu toàn quốc kháng chiến (1946-1951)

2.1.1. Những nhân tố tác động đến đường hướng Công giáo Việt Nam

2.1.2. Công giáo Việt Nam – “dòng trong” và “dòng đục”

2.2. Công giáo với dân tộc giai đoạn đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi (1951-1954)

2.2.1. Công giáo đồng hành cùng dân tộc

2.2.2. Một bộ phận Công giáo đi ngược lợi ích dân tộc

2.2.3. Cuộc di cư của người Công giáo miền Bắc

3. CHƯƠNG 3: CÔNG GIÁO VỚI DÂN TỘC TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP – ĐẶC ĐIỂM VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ

3.1. Công giáo với dân tộc – những đặc điểm cơ bản

3.2. Thực dân Pháp, Tòa thánh Vatican và Chính quyền Bảo Đại đã biến một bộ phận đồng bào Công giáo trở thành công cụ phục vụ chính quyền thực dân

3.3. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam nhất quán thực hiện chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, đoàn kết giáo lương

3.4. Trong quan hệ Công giáo với kháng chiến, nổi bật là sự tồn tại hai xu hướng đồng hành và ly khai dân tộc

3.5. Quan hệ Công giáo với dân tộc ở Bắc Bộ và Nam Bộ, biểu hiện và những sắc thái riêng biệt

3.6. Công giáo với dân tộc – một số kinh nghiệm lịch sử

3.6.1. Khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc của đồng bào Công giáo

3.6.2. Tôn trọng tự do tín ngưỡng, đoàn kết giáo, lương thực sự

3.6.3. Phân hóa, tranh thủ hàng ngũ chức sắc Công giáo

3.6.4. Đấu tranh với âm mưu lợi dụng Công giáo, trên tinh thần khoan dung, độ lượng

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Công giáo với dân tộc trong kháng chiến chống Pháp 1945 1954

Trong giai đoạn 1945-1954, Công giáo Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ với dân tộc và cuộc kháng chiến chống Pháp. Từ lịch sử truyền đạo bắt đầu năm 1533, đến thời kỳ thực dân Pháp chiếm đóng, Công giáo đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của xã hội Việt Nam, vừa có ảnh hưởng sâu sắc về văn hóa, vừa gắn liền với các biến cố chính trị. Cuộc kháng chiến chống Pháp là thời kỳ thử thách lớn đối với mối quan hệ này, khi có sự phân hóa rõ rệt giữa những người Công giáo đồng hành cùng dân tộc và một bộ phận đi ngược lại lợi ích dân tộc. Chính sách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) về tôn trọng tự do tín ngưỡng và đoàn kết lương giáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia tích cực của đồng bào Công giáo trong kháng chiến. Đồng thời, thực dân Pháp lợi dụng vấn đề tôn giáo để chia rẽ dân tộc, gây ra nhiều thách thức phức tạp trong quan hệ giữa Công giáo và dân tộc.

1.1. Lịch sử phát triển Công giáo Việt Nam và ảnh hưởng đến kháng chiến

Từ khi được truyền vào Việt Nam năm 1533, Công giáo Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn phát triển gắn liền với lịch sử dân tộc. Thời kỳ thực dân Pháp, Giáo hội Công giáo Việt Nam trở thành công cụ của thực dân trong việc kiểm soát xã hội và chính trị. Tuy nhiên, cũng có nhiều giáo dân và giáo sĩ yêu nước, tham gia tích cực vào các phong trào cách mạng và kháng chiến. Sự phát triển của Công giáo trong xã hội Việt Nam đã tạo nên một cộng đồng đông đảo, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tinh thần và chính trị của người dân.

1.2. Chính sách tôn giáo của Nhà nước VNDCCH trong giai đoạn 1945 1954

Nhà nước VNDCCH đã thực hiện chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo nhằm củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Chính sách này được thể hiện qua việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng trong Hiến pháp 1946, sự tham gia của các chức sắc Công giáo trong chính quyền và các tổ chức cứu quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng tư tưởng đoàn kết tôn giáo để thu hút đồng bào Công giáo tham gia kháng chiến, đồng thời đấu tranh chống lại âm mưu lợi dụng tôn giáo của thực dân Pháp.

II. Phân tích các thách thức trong quan hệ Công giáo với dân tộc giai đoạn kháng chiến chống Pháp

Quan hệ giữa Công giáo và dân tộc trong giai đoạn 1945-1954 không tránh khỏi những thách thức lớn. Thực dân Pháp lợi dụng chính sách tôn giáo để kích động chia rẽ, tạo ra sự phân hóa trong cộng đồng Công giáo. Một bộ phận giáo chức và giáo dân theo phe thực dân, đi ngược lại lợi ích dân tộc, trong khi đa số đồng bào Công giáo kiên định đồng hành cùng cách mạng. Sự tồn tại hai xu hướng này tạo nên những mâu thuẫn phức tạp, đòi hỏi sự vận động, thuyết phục và chính sách phù hợp từ phía Đảng và Nhà nước.

2.1. Tác động của chính sách thực dân Pháp đối với Công giáo Việt Nam

Thực dân Pháp đã sử dụng Giáo hội Công giáo Việt Nam như một công cụ chính trị để củng cố quyền lực thuộc địa. Họ ban phát đặc quyền kinh tế, chính trị cho giáo hội và một số giáo dân thân Pháp, đồng thời lợi dụng tôn giáo để chia rẽ dân tộc, kích động mâu thuẫn giữa Công giáo và các lực lượng cách mạng. Chính sách này gây ra sự phân hóa sâu sắc trong cộng đồng Công giáo, làm phức tạp thêm tình hình kháng chiến.

2.2. Hai xu hướng trong cộng đồng Công giáo Việt Nam thời kháng chiến

Trong giai đoạn kháng chiến, tồn tại hai xu hướng rõ rệt trong cộng đồng Công giáo: một bên là xu hướng đồng hành cùng dân tộc, tích cực tham gia kháng chiến, ủng hộ chính quyền cách mạng; bên kia là xu hướng ly khai, theo phe thực dân, chống lại cách mạng. Sự phân hóa này không chỉ là vấn đề tôn giáo mà còn là biểu hiện của mâu thuẫn chính trị sâu sắc, đòi hỏi sự lãnh đạo sáng suốt và chính sách linh hoạt từ phía Đảng và Nhà nước.

III. Phương pháp vận động và đoàn kết Công giáo trong kháng chiến chống Pháp 1945 1954

Để phát huy vai trò tích cực của đồng bào Công giáo trong cuộc kháng chiến, Đảng và Nhà nước đã triển khai nhiều phương pháp vận động, đoàn kết dựa trên tinh thần tôn trọng tự do tín ngưỡng và quyền lợi dân tộc. Các tổ chức Công giáo cứu quốc được thành lập, các chức sắc Công giáo được mời tham gia chính quyền và các hoạt động kháng chiến. Đồng thời, chính sách khoan dung, độ lượng được áp dụng để đấu tranh chống lại các âm mưu lợi dụng tôn giáo chia rẽ dân tộc.

3.1. Chiến lược đại đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo là nền tảng cho chiến lược vận động đồng bào Công giáo tham gia kháng chiến. Hồ Chí Minh nhấn mạnh quyền tự do tín ngưỡng, sự bình đẳng giữa các tôn giáo và kêu gọi đồng bào Công giáo sống tốt đời đẹp đạo, đồng hành cùng dân tộc. Chiến lược này đã tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa các lực lượng dân tộc, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.

3.2. Vai trò của các tổ chức Công giáo cứu quốc trong kháng chiến

Các tổ chức như Hội Công giáo cứu quốc, Liên đoàn Công giáo kháng chiến đã tập hợp đông đảo giáo dân tham gia các hoạt động kháng chiến, từ tuyên truyền, vận động đến trực tiếp chiến đấu. Những tổ chức này là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước và cộng đồng Công giáo, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và nâng cao tinh thần yêu nước trong đồng bào Công giáo.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về Công giáo trong kháng chiến chống Pháp

Nghiên cứu thực tiễn cho thấy, sự đồng hành của đồng bào Công giáo với dân tộc trong kháng chiến đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc đấu tranh giành độc lập. Đồng thời, việc vận dụng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng và đoàn kết tôn giáo đã tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của khối đại đoàn kết toàn dân. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra những bài học kinh nghiệm quý báu về cách thức vận động, thuyết phục đồng bào Công giáo, đồng thời cảnh báo về những nguy cơ từ các hoạt động chống phá lợi dụng tôn giáo.

4.1. Đóng góp của đồng bào Công giáo trong kháng chiến toàn quốc

Đồng bào Công giáo đã tham gia tích cực trong nhiều mặt trận kháng chiến: từ sản xuất, hậu cần đến chiến đấu trực tiếp. Nhiều giáo dân và linh mục đã trở thành chiến sĩ cách mạng, góp phần bảo vệ chính quyền cách mạng và xây dựng lực lượng kháng chiến. Sự đóng góp này đã làm thay đổi nhận thức xã hội về vai trò của Công giáo trong lịch sử dân tộc.

4.2. Kinh nghiệm vận động và đoàn kết tôn giáo trong kháng chiến

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, việc vận động đồng bào Công giáo cần dựa trên nguyên tắc tôn trọng tự do tín ngưỡng, đối thoại chân thành và chính sách khoan dung. Việc phân hóa, tranh thủ các chức sắc Công giáo có uy tín trong cộng đồng là phương pháp hiệu quả để củng cố khối đại đoàn kết. Đồng thời, cần đấu tranh kiên quyết với các âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ dân tộc, bảo vệ sự thống nhất và ổn định xã hội.

V. Kết luận và triển vọng phát triển mối quan hệ Công giáo với dân tộc trong tương lai

Qua nghiên cứu, có thể khẳng định mối quan hệ giữa Công giáo và dân tộc trong kháng chiến chống Pháp là một hiện tượng phức tạp nhưng đầy ý nghĩa lịch sử. Sự đồng hành của đồng bào Công giáo với dân tộc đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển hài hòa giữa tôn giáo và dân tộc trong thời kỳ mới. Triển vọng trong tương lai là tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết lương giáo, xây dựng mối quan hệ hài hòa, góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước và bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia.

5.1. Đánh giá vai trò lịch sử của Công giáo trong kháng chiến chống Pháp

Vai trò của Công giáo Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp vừa có mặt tích cực, vừa có những hạn chế. Sự đồng hành của đông đảo giáo dân và giáo sĩ yêu nước đã góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Đồng thời, những bài học về sự phân hóa và mâu thuẫn nội bộ cũng là kinh nghiệm quý báu để vận dụng trong công tác tôn giáo hiện nay.

5.2. Hướng phát triển mối quan hệ Công giáo và dân tộc trong thời kỳ đổi mới

Trong bối cảnh hiện đại, việc tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết lương giáo là nhiệm vụ quan trọng. Cần xây dựng chính sách tôn giáo phù hợp, tạo điều kiện cho đồng bào Công giáo phát huy vai trò tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đấu tranh chống lại các âm mưu lợi dụng tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Việc học hỏi kinh nghiệm lịch sử từ giai đoạn kháng chiến chống Pháp sẽ giúp định hướng phát triển mối quan hệ hài hòa giữa Công giáo và dân tộc trong tương lai.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phổ biến, có ảnh hưởng to lớn đến sự tồn tại và phát triển của các cộng đồng người trong lịch sử.Hiện nay, ảnh hưởng của tôn giáo đang có chiều hướng gia tăng đối với các lĩnh vực trong đời sống xã hội ở hầu khắp các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo khác nhau cùng song hành tồn tại. Nhìn chung, phần lớn các tôn giáo ở Việt Nam đều du nhập từ nước ngoài vào và trong lịch sử, nhiều tôn giáo đã có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp giành, giữ độc lập dân tộc, phát triển đất nước, góp phần hình thành bản sắc văn hóa dân tộc, tinh thần yêu nước mang tính đặc thù riêng của dân tộc Việt Nam, hòa nhập và gắn kết với dân tộc.

Đạo Công giáo1 là một chi phái lớn của Kitô giáo 2, có tác động nhiều mặt đến đời sống, đạo đức, văn hóa, lối sống, phong tục, tập quán. của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Mặc dù Công giáo được du nhập vào Việt Nam muộn hơn một số tôn giáo khác, nhưng với tất cả tính riêng biệt của mình, Công giáo đã và đang có ảnh hưởng sâu sắc đối với đời sống tinh thần trong xã hội Việt Nam. Có lẽ, ít tôn giáo nào ở Việt Nam ngay từ khi mới du nhập đã dính líu đến vấn đề chính trị, mang tính chính trị nhiều hơn là tính thuần túy tôn giáo như là đạo Công giáo.

Nếu ấy năm 1533 là mốc đánh dấu việc đạo Công giáo được truyền vào Việt Nam, thì cũng từ thời khắc ấy đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, vấn đề Công giáo với chính trị, Công giáo với dân tộc thường được hình dung qua quan hệ giữa thế lực thực dân và kẻ truyền đạo. Mỗi 1 Đạo Công giáo (Catholicism) là Đạo mà chính Chúa Giêsu đã khai sinh và rao giảng để mang ơn cứu độ của Thiên Chúa đến cho mọi người.Đạo của Chúa Kitô (Christianity) được gọi là Đạo Công giáo vì mục đích phổ quát của ơn cứu độ mà Chúa đã mang đến cho nhân loại. Vì thế, thuật ngữ “Công giáo” có nghĩa là chung, là phổ quát (universal). Công giáo là thuật ngữ được sử dụng đặc biệt trong ngữ cảnh Kittô giáo, chỉ giáo hội duy nhất, nguyên thuỷ - Giáo hội Công giáo Rô ma.Trong tiếng Việt, thuật ngữ Công giáo được dùng để dịch từ Catholica/Catholiquevới ý nghĩa đó là đạo chung, đạo phổ quát, đạo công cộngdành cho tất thảy mọi người không phân biệt màu da, tiếng nói và văn hóa.Ngoài ra, Công giáo ở Việt Nam còn được gọi là đạo Gia tô, Thiên Chúa giáo, Kittô giáo.

2 Kitô giáo (thuật ngữ phiên âm) hoặc Cơ Đốc giáo (thuật ngữ Hán –Việt) là một trong các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham – tổ phụ của người Do Thái và Ả Rập.Kitô giáo bao gồm nhiều truyền thống tôn giáo với các dị biệt văn hóa cũng như hàng ngàn xác tín và giáo phái khác nhau. Trải qua hai thiên niên kỷ, Kitô giáo hình thành nên ba nhánh chính: Công giáo Rô ma, Chính thống giáo Đông phương (tách ra khỏi Giáo hội Công Giáo La Mã năm 1054vì một số bất đồng về tín lý, phụng vụ và quyền bính)và Tin lành (ly khai khỏi Công Giáo và Chính Thống Giáo sau những cuộc cải cách/reformations do Martin Luther chủ xướng tại Đức năm 1517). Những nhánh này sau đó cũng đã phân chia thành hàng ngàn các nhánh nhỏ khác nhau. Tính chung, đây là tôn giáo lớn nhất thế giới với hơn 2,1 tỉ tín hữu (chiếm khoảng 34% dân số thế giới).

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bước tiến của sự xâm lăng thuộc địa tương ứng với mỗi bước leo thang của đạo Công giáo và ngược lại. Đã xảy ra không ít những cuộc đụng độ giữa Công giáo và dân tộc. Cách mạng tháng Tám 1945 là một sự kiện lịch sử vĩ đại, có sức lan tỏa, có tầm ảnh hưởng sâu rộng vượt ra khỏi biên giới quốc gia dân tộc. Nhà nước VNDCCH ra đời – chính từ thời khắc lịch sử ấy, dân tộc Việt Nam bước vào cuộc hồi sinh vĩ đại, xóa bỏ 80 năm nô lệ, xây dựng cuộc sống mới với tư thế và địa vị của người làm chủ.

Với tính chất dân tộc sâu đậm, Cách mạng tháng Tám đã mở ra cho người CGVN vận hội mới - đoàn kết với 20 triệu người ngoại đạo thành một khối thống nhất để kiến thiết và bảo vệ Tổ quốc. Đó là cơ hội để người Công giáo vươn lên, xác định đúng vị trí của mình trong lòng dân tộc Việt Nam. Cách mạng thành công chưa bao lâu, lịch sử lại đặt đất nước Việt Nam trước những thách thức mới và to lớn – thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh tái chiếm Đông Dương. Nền độc lập vừa mới giành được đứng trước nguy cơ một mất, một còn.

Lúc này, độc lập là vô giá, quyền dân tộc là thiêng liêng; lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, tự do; nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng, toàn dân là bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ chế độ. Để thực hiện nhiệm vụ cấp bách ấy, cần củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, tập hợp hết thảy mọi giai cấp, tầng lớp, tôn giáo…. Tuy nhiên, tiến hành chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp đã triệt để lợi dụng vấn đề Công giáo vào mục đích kích động chia rẽ dân tộc, hòng làm suy yếu cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Một lần nữa, vấn đề Công giáo với dân tộc trở nên hết sức nhạy cảm và phức tạp.

Quan hệ giữa GHVN với thực dân Pháp, thái độ của những người CGVN trước vận mạng sống còn của dân tộc có những sắc thái và diễn biến mới, hình thành những xu hướng khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Bên cạnh một dòng Công giáo yêu nước bền bỉ chảy, hướng về nguồn cội dân tộc, thì vẫn tồn tại một dòng Công giáo khác - “dòng đục” đi ngược lợi ích dân tộc, một lần nữa được hàng giáo phẩm GHCGVN khơi lên bằng những hành động bất xứng mang danh Chúa, kéo đẩy một bộ phận giáo dân Việt Nam vào con đường xa rời dân tộc. Như vậy, trong KCCP, vấn đề Công giáo và dân tộc diễn ra một cách gay gắt, ác liệt, trở thành vấn đề vô cùng gai góc, mà thực chất là việc giải quyết quan hệ giữa Công giáo – Cộng sản. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cuộc KCCP trường chinh 9 năm gian khó của dân tộc Việt Nam đã lùi xa hơn mấy chục năm, lịch sử đã lật sang trang mới, song lịch sử không phải là những nét đứt gãy, mà là những chuỗi sự kiện với kết quả và hệ lụy mang tính logic.

Trải qua bao biến cố, thăng trầm lịch sử, hiện nay, vấn đề Công giáo với dân tộc trong KCCP, vì thế, vẫn rất cần được nghiên cứu, đánh giá khách quan, khoa học và công bằng, chỉ ra một cách hệ thống, toàn diện đặc điểm, xu hướng, vai trò của Công giáo trong kháng chiến, đúc rút những kinh nghiệm lịch sử, để vận dụng giải quyết vấn đề Công giáo với dân tộc trong điều kiện hiện nay. Trên ý nghĩa đó, chúng tôi chọn vấn đề “Công giáo với dân tộc trongcuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954)” làm đề tài luận án tiến sĩ, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án còn phục vụ cho việc nghiên cứu hoặc giảng dạy những vấn đề có liên quan. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Sự hấp dẫn, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu khiến cho số lượng công trình nghiên cứu hoặc về, hoặc có liên quan đến đề tài khá đồ sộ, đa dạng về chủng loại, phong phú ở góc độ tiếp cận.Khảo cứu một cách kỹ càng, cẩn trọng những công trình nghiên cứu của những nhà nghiên cứu đi trước là thao tác khoa học cần thiết, quan trọng, là một trong những cơ sở để tác giả luận án hoàn thành mục đích nghiên cứu của mình.

Hệ thống hóa, phân tích các công trình khoa học về, hoặc liên quan trực tiếp đến vấn đề tôn giáo, CGVN, vấn đề Công giáo với dân tộc trong cuộc KCCP (1945- 1954), dựa vào đối tượng, mục đích, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu của các công trình, tác giả chọn cách tiếp cận theo nội dung vấn đề nghiên cứu để phân loại công trình. Nhóm công trình nghiên cứu về tôn giáo Trung tâm thông tin tư liệu – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1995), Tôn giáo tín ngưỡng hiện nay – Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách, Chuyên đề,Hà Nội; Lê Hữu Nghĩa (Chủ nhiệm, 2003), Xu hướng phát triển tôn giáo hiện nay ở nước ta và những vấn đề đặt ra cho công tác lãnh đạo, quản lý, Đề tài nghiên cứu khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Võ Kim Quyên (2004), Tôn giáo và đời sống hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nội; Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội; Vũ Văn Hậu (2006), “Nhìn nhận về sự tác động của toàn cầu hóa tới đời sống tôn giáo ở nước ta hiện nay”, Tạp chíThông tin Khoa học xã hội, số 8; Đỗ Minh Hợp (Chủ biên, 2006), Tôn giáo học nhập môn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội; Đỗ Minh Hợp (Chủ biên, 2006), Tôn giáo Phương Đông - Quá khứ và hiện tại, Nxb Tôn giáo, Hà Nội; Nguyễn Duy Hinh (2007), Một số bài viết về tôn giáo học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội… Thông tin chuyên đề “Những đặc điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam” đã tập trung làm rõ những đặc điểm chủ yếu của các loại hình tôn giáo lớn ở Việt Nam, trình bày những tác động cơ bản của các tôn giáo khác nhau đối với đời sống xã hội Việt Nam, chỉ ra những phương hướng chủ yếu xây dựng khối đoàn kết tôn giáo. Trong công trình, các tác giả đã khái lược về lịch sử CGVN, điểm qua vai trò của CGVN trong hai cuộc KCCP, KCCM (1945- 1975) và trong thời kỳ cả nước quá độ lên CNXH (từ năm 1975 đến nay). Trong cuốn sách “Tôn giáo và đời sống hiện đại”, tác giả Võ Kim Quyên đã nghiên cứu về sự tác động giữa tôn giáo với đời sống – xã hội thời kỳ hiện đại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ