CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHAP LUAT VE HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 1. Khái niệm hoạt động công chứng Lan dau tiên nghề công chứng được ra đời tại Ai Cập, Hy Lap và sau đó là La Mã (khoảng năm 535), với tên gọi là “Notarius” hoạt động 1a ghi nhận ý kiến, tốc ký — còn được gọi là “notae”, hợp đồng, đi chúc và các văn bản khác. Cho đến thế ký 13 thì công chứng phát triển rất nhanh ở Châu Âu. Thời gian dau, “công chứng” chính là “công quyển đứng lên làm chứng” cho các giao dịch giữa các bên.
Tức là, Nhà nước trao quyển cho một đơn vị được thay mặt mình dé xác thực tại các giao dịch phát sinh trong đời sống xã hội. Nếu một văn bản được công chứng thì sẽ có hiệu lực pháp ly và được các bên tuân thú thi hành. Nếu thực hiện không đúng thì co quyền khởi kiện ra tòa án và văn bản được công chứng là tài liệu dé Tòa dựa vao đó dé giải quyết!. Theo nghiên cứu vẻ tài liệu lich sử công chứng, thì trên thé giới xuất hiện 3 hệ thống công chứng, thứ nhất là hệ thống công chứng dân luật (hay là hệ thống công chứng latinh), thứ hai hệ thống công chứng thông luật (hay là hệ thống công chứng Anglo - Saxon) và hệ thông công chứng Collectiviste (hay là hệ thông công chứng tập thê) - đây là hệ thống công chứng mang tính công quyển, ở đó công chứng được coi như một hoạt động của cơ quan nhà nước, TCHNCC là cơ quan hành chính nhà nước và CCV do nhà nước bé nhiệm.
Như vậy, công chứng đã được ra đời từ rat lâu, tổn tại và phát triển cho đến nay. 1 Bộ Tư pháp (2013), Báo cáo tổng thuật về pháp luật về công chứng của hệ thống công chứng Latinh (Cộng hòa Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Tây Ban Nha, Ba Lan, Cộng hòa nhân dan Trung Hoa, Nhật Bản, Han Quốc) và một thông tin liên quan đến hệ thông công chứng Anglo - Saxon, Ha Nội ? Bộ Tư pháp (1996), Những vấn dé cơ bản về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, Tài liệu nghiệp vụ, Hà Nội 10 Ở nước ta, công chứng được biết là mô hình công chứng theo nên tảng của công chứng thời bao cấp. Hoạt động công chứng có từ thời kỳ pháp thuộc, công chứng được khôi phục sau khi giải phóng đất nước. Từ khi Luật công chứng năm 2006 có hiệu lực và bãi bỏ Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2000 về công chứng, chứng thực của Chính phủ, đây là bước tiến mới đã xác định công chứng là một nghẻ như bao nghề khác và CCV là người làm nghề công chứng.
Trước yêu câu xã hội và sự phát triển đa đạng về thành phân kinh tế và các quan hệ dân sự nhiều hơn, nên năm 2014 đã ban hành Luật công chứng mới và thay thế Luật công chứng năm 2006, từ đó đã khẳng định năng lực hoạt động công chứng ở mức độ chuyên sâu hơn, thê hiện ở giá trị văn bán của công chứng được các cơ quan chuyên môn về đất đai, đăng kiểm xe. xem đó là giá trị pháp lý cao nhất để thực hiện chuyên quyên tài san, hơn nữa nó còn có giá trị chứng cứ khi có tranh chấp khởi kiện tai Tòa án. * Khái niệm hoạt động công chứng Theo tra cứu Từ điển Hán Việt, công chứng là "Lay quyên công ma làm chứng" được coi như định nghĩa công chứng mang tính quyên lực nhà nước. Cũng trong Từ điển Tiếng Việt, đã nêu công chứng là: “sự chứng thực của cơ quan nhà nước có thâm quyền nhằm xác nhận về mặt pháp lý các văn bản, hoặc bản sao từ bản gốc”1, đã khẳng định quyền lực công trên.
Trên thé giới tổn tại nhiều khái niệm về công chứng, ở mỗi quốc gia, mỗi hệ thống pháp luật khái niệm này có nội hàm không giống nhau. Tuy nhiên, có thể nhận thấy những đặc điểm cơ bản của những khái niệm về công chứng, đó là: “xác thực”, “ghi chép lại bằng văn bản”, “lưu giữ” và “được thực hiện bởi công chứng viên”. 3 Phạm Văn Các (2018), Tir điển Han Liệt, NXB Dân trí - Viện ngôn ngữ học (2005), 7ừ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng 11 Nhìn chung, các nước theo hệ phái Latinh déu ghi nhận công chứng 1a hoạt động của công chứng viên xác nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hành vị pháp lý dân sự, sự kiện và văn bản theo trình tự luật định. Hệ phái công chứng Latinh cho rằng ban chất cốt lõi của việc công chứng phái do và chỉ do công chứng viên thực hiện.
Nên các nước theo hệ phái Latinh, đều công nhận tính hợp pháp trong công chứng các HĐ, GD này phải gắn với việc chứng nhận về nội dung trong văn bản công chứng. Trong những nguyên tắc xuyên suốt theo công chứng hệ phái Latinh: “công chứng là việc công chứng viên ghi chép lại bằng văn bản, chứng nhận xác thực và lưu giữ chứng cứ nhằm bảo đảm giá trị pháp lý của văn bản công chứng”. Ở Việt Nam, theo tra cứu từ điền luật học thì “công chứng” được hiểu là: “việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng ”5, Khi thực hiện công chứng, công chứng viên xác định rõ về năng lực hành vi dân sự đích thực về ý chí thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch, xác định rõ về đối tượng của hợp đồng là có thật và được xác định về mặt pháp lý; nội dung, mục đích của hợp đồng phải phủ hợp pháp luật và đạo đức xã hội. Nhà nước căn cứ vào yêu câu về giao dich dân sự ở từng vùng dé quyết định việc thành lập, tô chức ra t6 chức hành nghề công chứng dưới dang Phòng công chứng nhà nước.
Té chức và hoạt động công chứng được nhà nước bao cấp thé hiện rõ tính chất quyển lực công ở hình thức con dấu, ở trụ sở Phòng công chứng là tải sản công và thực hiện thu phí công chứng được thống nhất trên toàn lãnh thô. Văn ban công chứng có giá trị là chứng cứ được xác định rỡ. Theo quy định của Luật công chứng 2014: “Công chứng là việc công chứng viên của một tô chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, 5 Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, (2017), Tir điển luật học, NXB Tư pháp 12 hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Liệt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Liệt (sau đây gọi là ban dich) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tô chức tự nguyện yêu cầu công chứng 5. Theo định nghĩa nay thì đây là hoạt động của CCV, đối tượng dé CCV là các HD, GD dân sự, những văn bản trên được CCV xác nhận có giá trị pháp lý; văn bản nay được các co quan hành chính nhà nước chấp nhận.
Từ các phân tích cùng quy định trên đây, có thể biết tới khái niệm về hoạt động công chứng theo quy định của Luật công chứng năm 2014 là: “Công chứng là việc Công chứng viên hoạt động ở một tô chức công chứng, theo yêu cau của cá nhân, tổ chức hoặc theo quy định của pháp luật buộc công chứng, chứng nhận tính hợp pháp, tính xác thực của các văn bản hợp đồng, giao dịch hoặc bản địch nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, quyên, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Đặc điểm của hoạt động công chứng Từ khái niệm và nhận định đã nêu trên, ta có thé thay công chứng mang những đặc điểm như sau: Một là, công chứng là hành v1 của công chứng viên. Chỉ có CCV mới thực hiện công chứng HD, GD dân sự, khác với chứng thực theo Nghị định số: 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 quy định vé chứng thực HD, GD, đây là hành vi của người đại diện cho các co quan hành chính công quyển và các cơ ngoại giao, lãnh sự ở nước ngoài. Hai là, tính xác thực của HD, GD khác được CCV ghi nhận.
5 Khoản 1 Điều 2 Luật công chứng năm 2014 13 Chứng cứ có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động tô tụng, đề các cơ quan nhà nước dựa vào đó xét xử một cách khách quan, công bằng, nên chứng cứ phải r6 ràng, tường minh và phải có tính xác thực tức là các sự kiện và tình tiết phải có thực mang tính khách quan. Đối với hoạt động công chứng, các tình tiết, sự kiện thể hiện trong HD, GD phải dam bảo tính xác thực thì các văn bản đó mới có giá trị chứng cứ. Khi công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng, đã xác nhận văn bản thì đều phải tuân theo một trình tự, thủ tục công chứng. Chính vì vậy, văn bản công chứng được pháp luật công nhận vì có tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó, từ đó các cơ quan Nhà nước công nhận tính hợp pháp của văn bản công chứng.
Trên thực tế co những tinh tiết, sự kiện xảy ra ngay thời điểm CCV xác nhận tính xác thực đó là: nhận dạng, dấu vết của người yêu cầu công chứng và ý chí tự nguyện của hai bên khi tham gia ký kết HD, GD, van dé nay này được CCV kiêm tra, kiêm chứng rat kỹ bằng nhiều cách thức khác nhau dé cho các bên ký kết giao dịch. Như vậy, việc CCV xác nhận tính xác thực đó để bảo đảm không xảy ra các tranh chấp về sau, các cơ quan Nhà nước, nhất là Tòa án không phải xác minh lại. Ba là, tính hợp pháp của HD, GD khác được CCV xác nhận. Đây là điểm khác biệt giữa hệ thống công chứng nội dung (công chứng hệ Latine) và trường phái công chứng hình thức (công chứng hệ Anglosason).
Trong công chứng hệ Latine thì các HĐ, GD hợp pháp mới được CCV xác nhận, những HĐ, GD bắt hợp pháp thì bị từ chối công chứng. Đặc điểm nay của công chứng hệ Latine quy định chức năng phòng ngừa các tranh chấp trong HĐ, GD khác của công chứng. Quy định của pháp luật về hoạt động công chứng Pháp luật về hoạt động công chứng được hiểu là: “Pháp luật về hoạt động công chứng là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động công chứng ”.