Chương 1: Những van đề lý luận về công chứng hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay vốn. Chương 2: Thực trạng pháp luật về công chứng hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay vốn. 15 Chương 3: Thực tiễn vận dụng và một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về công chứng hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay vốn. Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo 16 Chuong 1 NHUNG VAN DE LY LUAN VE CONG CHUNG HOP DONG BAO DAM NGHIA VU TRA NO TRONG HOP DONG VAY VON 1.
Khái quát chung về Công chứng 1. Quan niệm về Công chứng Ra đời với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong các giao dich dân sự, Công chứng đã xuất hiện từ lâu và luôn nhận được sự quan tâm của toàn xã hội. Ngày nay, Công chứng đã có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế ĐIỚI VỚI nhiều quan điểm khác nhau. Chính sự đa dạng trong chế độ chính trị, tình hình kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia đã tạo ra sự đa dạng trong quan điểm về Công chứng trên thế giới.
Có quan điểm cho rằng, trên thế giới có ba hệ thống công chứng, bao gồm: Hệ thống công chứng La tinh, Hệ thống công chứng Anglo Saxon và Hệ thống công chứng Collectiviste [33, tr9]; Quan điểm khác lại cho rằng hiện nay đang tồn tai hai hệ thống công chứng chủ yếu, gồm: Hệ thống công chứng Ănglo Saxon (công chứng hình thức) và hệ thong công chứng pháp luật lục địa (công chứng nội dung) [25, tr14]. Mỗi quan điểm đều dựa trên những lý lẽ riêng, nhưng tựu chung lại: công chứng (hay hệ thống công chứng) đều được quy định để giải quyết các mỗi quan hệ về sở hữu các loại tài sản (chuyên nhượng, tặng cho, thừa kế. Liên minh công chứng quốc tế với tư cách là tổ chức tập hợp đông đảo các quốc gia, vùng lãnh thổ có hoạt động công chứng cũng đưa ra quan điểm về công chứng. Tuy không trực tiếp đưa ra khái niệm công chứng nhưng quan điểm về Công chứng được phản ánh trong Các nguyên tắc cơ bản của hệ thong công chứng La-tinh được thông qua năm 2005.
Theo đó: “Công chứng viên, một người hành nghề luật, là một chức danh công, do Nhà nước 17 bồ nhiệm dé xác thực các văn bản pháp lý và hợp dong mà công chứng viên soạn thảo và để tư vấn cho những người cân đến dịch vụ công chứng” [43, nguyên tắc số 1]. Dù quan niệm về công chứng chỉ được đề cập gián tiếp trong nguyên tắc trên nhưng nếu coi công chứng là một công việc thì công việc đó là xác thực các văn bản pháp lý và hợp đồng. Ở Việt Nam, quan niệm về công chứng rất đa dạng, được nhiều tác giả nhận định trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau. Theo hướng quy định cụ thé, Từ điển luật học do Viện khoa học pháp ly — Bộ Tư pháp đưa ra giải thích: “Công chứng là chứng nhận tinh xác thực của hợp đồng được giao kết và các giấy tờ từ bản gốc được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác.
Nội dung trên chỉ rõ công chứng gồm hai hoạt động: chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết (không bao gồm chứng nhận tính xác thực các hành vi pháp lý đơn phương như Di chúc) và các giấy tờ từ bản gốc (với hàm ý chỉ bản sao và bản dịch). Đi tìm một quan điểm khái quát nhất và phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế ở Việt Nam tác giả đã tìm thấy quan điểm của một Công chứng viên đã hành nghề nhiều năm, ông Lê Quốc Hùng — Trưởng Văn phòng Công chứng Hà Nội nhận định: “Công chứng là lấy quyên công ra mà làm chứng ”[36, tr 101]. Theo quan điểm nay, Công chứng viên công chứng hợp đồng, giao dịch chính là sự đảm bảo giao dịch đó đã được làm chứng bởi quyền lực công. Bên thứ ba mặc nhiên phải tôn trọng việc làm chứng này.
Luật Công chứng năm 2014 và Luật Công chứng năm 2006 thể hiện nét tương đồng với các quan điểm trên khi quy định: “Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thục, tính hợp pháp của hợp dong, giao dịch khác (sau đây gọi la hợp đồng, giao dich) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tô chức tự nguyện yêu câu công chứng. ”— Điều 2 Luật Công chứng năm 2006 18 Va “Công chứng la việc công chứng viên của một tổ chức hành nghé công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hop dong, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là ban dịch) mà theo quy định cua pháp luật phải công chứng hoặc ca nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.” — khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014. Như vậy, hầu hết các quan điểm đều cho rằng Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực và tính hợp pháp của hop dong, giao dịch khác và việc này được thực hiện bởi Công chứng viên. Bản chất pháp lý của Công chứng hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hợp dong vay von 1.
Công chứng hợp đông bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hợp dong vay von là dich vụ đặc biệt, do Công chứng viên thực hiện, thể hiện quyền lực nhà nước nhưng không áp dụng Luật bôi thường nhà nước trong trường hợp Công chứng viên gáy thiệt hại. Ké từ ngày 01/7/2007 (ngày Luật Công chứng năm 2006 có hiệu lực) Công chứng viên (không phân biệt là Công chứng viên của Phòng công chứng nhà nước hay Văn phòng công chứng) đều có thâm quyền công chứng các hợp đồng, giao dịch. Khi tiến hành hoạt động này, t6 chức hành nghề công chứng được phép thu phí (phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác) theo khoản 2 Điều 31 Luật Công chứng năm 2006 và khoản 2 Điều 31 Luật Công chứng năm 2014. Công chứng viên có quyền chứng nhận tính xác thực và hợp pháp của hợp đồng giao dịch.
Văn bản được công chứng được các cơ quan nhà nước thừa nhận (như hợp đồng chuyên nhượng quyền sử dụng đất được công chứng 19 sẽ là cơ sở để bên nhận chuyên nhượng nộp hồ sơ đăng ký sang tên) thể hiện sự giao quyền công cho Công chứng viên. Dé nhận được sự tin tưởng vào giao quyền đó, Công chứng viên phải trải qua thời gian đào tạo, tập sự, nhận bồ nhiệm và chịu sự quan lý của Sở Tư pháp. Nếu Công chứng viên làm việc trong các Phòng công chứng nhà nước (là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp) thì họ là viên chức nhà nước (Công chứng viên là công chức hoặc viên chức nhà nước theo quy định tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010). Nếu Công chứng viên làm việc trong các Văn phòng công chứng thì họ không là công chức hay viên chức nhà nước.
Khi Công chứng viên tại Văn phòng công chứng gây thiệt hại, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 sẽ không được lựa chọn áp dụng vì họ không phải là công chức hay viên chức nhà nước. Nhưng dù là Công chứng viên tại Phòng công chứng nhà nước hay Công chứng viên tại Văn phòng công chứng cũng không thê áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009 trong mối quan hệ với người bị thiệt hại vì các lý do sau đây: - Thứ nhất, Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009 quy định: “Luật nay quy định trách nhiệm bồi thường của nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, to tụng, thi hành án” [10, điều 1]. Néu muốn áp dụng Luật Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009 thì phải chứng minh được rang, hành vi của Công chứng viên thuộc Phòng công chứng nam “trong hoạt động quan lý hành chính”. Tuy nhiên, rất khó khang định hành vi công chứng là “hoạt động quản lý hành chính”.
- Thứ hai, hành vi trong lĩnh vực công chứng nhà nước không được quy định là một trong những hành vi trong hoạt động quản lý hành chính có thể 20 làm phát sinh trách nhiệm bồi thường được quy định điều 13, Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009. - Thứ ba, Công chứng viên của các Văn phòng công chứng không là viên chức nhà nước nên đương nhiên van đề bồi thường thiệt hại do hành vi của họ gây ra sẽ không được điều chỉnh bởi Luật Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009. Vì thế, nếu chúng ta áp dụng Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009 cho hành vi của Công chứng viên trong Phòng công chứng nhà nước thì sẽ tạo ra sự không thống nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam và bất công bằng giữa công chứng tư và công chứng nhà nước. Ngoài ra, hành vi của Công chứng viên có thé bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ và tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ bởi chủ thé thực hiện hành vi phạm tội có thé là bất kỳ người nào, không loại trừ người đó là Công chứng viên [7, điều 281, 282.
Công chứng là hình thức dam bảo hiệu lực của hop đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay vốn Hợp đồng bảo đảm THNVTNTHĐVV mang tính chất là một biện pháp bảo đảm. Do vậy, pháp luật quy định bắt buộc hợp đồng này phải thực hiện theo thủ tục đặc biệt nhằm đảm bảo sự thỏa thuận giữa các bên có hiệu lực thi hành, đó là thủ tục công chứng do Công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện. Thủ tục công chứng bao gồm nhiều bước, được tiễn hành dưới sự kiểm soát của Công chứng viên sẽ đảm bảo Hợp đồng bảo đảm THNVTNTHDVV có hiệu lực [1, khoản 2 điều 122]. Hợp dong công chứng có giá trị chứng cứ.
Hoạt động công chứng có khả năng lưu trữ và cung cáp chứng cư. 21 Hop đồng sau khi công chứng sẽ rang buộc trách nhiệm giữa các bên theo những nội dung đã thỏa thuận. Nếu bên nào đó không thực hiện đúng theo thỏa thuận, bên còn lại có thé căn cứ vào hợp đồng đã công chứng dé yêu cầu Tòa án giải quyết.