Luận Văn Về Công Bố Thông Tin Của Công Ty Niêm Yết

Khám phá luận văn pháp luật về công bố thông tin của công ty niêm yết, phân tích quy định và thực tiễn áp dụng trong lĩnh vực tài chính.

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2022

91
7
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về công bố thông tin công ty niêm yết tại Việt Nam

Công bố thông tin là một trong những nghĩa vụ quan trọng của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Theo quy định của pháp luật, công ty niêm yết phải thực hiện công bố thông tin một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác. Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư mà còn nâng cao tính minh bạch của thị trường chứng khoán Việt Nam.

1.1. Khái niệm công bố thông tin công ty niêm yết

Công bố thông tin công ty niêm yết được hiểu là việc công ty thông báo các thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh, tài chính của mình đến các nhà đầu tư và công chúng. Điều này bao gồm các báo cáo tài chính, thông tin về cổ đông, và các sự kiện quan trọng khác.

1.2. Vai trò của công bố thông tin trong thị trường chứng khoán

Công bố thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng niềm tin cho nhà đầu tư. Nó giúp nhà đầu tư có được thông tin cần thiết để đưa ra quyết định đầu tư chính xác, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán.

II. Quy định pháp luật về công bố thông tin công ty niêm yết

Luật Chứng khoán 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định rõ ràng về nghĩa vụ công bố thông tin của công ty niêm yết. Các quy định này nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc cung cấp thông tin cho nhà đầu tư.

2.1. Các loại thông tin cần công bố

Công ty niêm yết phải công bố các thông tin định kỳ như báo cáo tài chính hàng năm, báo cáo thường niên, và các thông tin bất thường khi có sự kiện quan trọng xảy ra. Điều này giúp nhà đầu tư nắm bắt kịp thời tình hình hoạt động của công ty.

2.2. Nguyên tắc công bố thông tin

Nguyên tắc công bố thông tin bao gồm tính công bằng, minh bạch và kịp thời. Công ty niêm yết phải đảm bảo rằng tất cả các nhà đầu tư đều có cơ hội tiếp cận thông tin giống nhau, không phân biệt đối xử.

III. Thực trạng công bố thông tin công ty niêm yết tại Việt Nam

Mặc dù đã có nhiều quy định pháp luật, thực trạng công bố thông tin của các công ty niêm yết tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều công ty chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công bố thông tin, dẫn đến tình trạng thiếu minh bạch trên thị trường.

3.1. Những vấn đề gặp phải trong công bố thông tin

Nhiều công ty niêm yết chưa chú trọng đến việc công bố thông tin kịp thời và chính xác. Điều này gây khó khăn cho nhà đầu tư trong việc đưa ra quyết định đầu tư. Thực trạng này cần được cải thiện để nâng cao tính minh bạch của thị trường.

3.2. Các giải pháp cải thiện công bố thông tin

Cần có các biện pháp mạnh mẽ hơn từ cơ quan quản lý nhà nước để yêu cầu các công ty niêm yết thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ công bố thông tin. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức của các công ty về tầm quan trọng của việc công bố thông tin.

IV. Kết luận và hướng phát triển công bố thông tin công ty niêm yết

Công bố thông tin công ty niêm yết là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng một thị trường chứng khoán minh bạch và công bằng. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao ý thức của các công ty niêm yết sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường.

4.1. Tương lai của công bố thông tin công ty niêm yết

Trong tương lai, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về công bố thông tin để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường chứng khoán. Điều này sẽ giúp nâng cao tính minh bạch và bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.

4.2. Đề xuất chính sách hỗ trợ công ty niêm yết

Cần có các chính sách hỗ trợ từ phía nhà nước để khuyến khích các công ty niêm yết thực hiện tốt nghĩa vụ công bố thông tin. Điều này không chỉ giúp bảo vệ nhà đầu tư mà còn nâng cao uy tín của thị trường chứng khoán Việt Nam.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY NIÊM YẾT 1. Khái niệm, đặc điểm của hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết 1. Khái niệm của hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết Ở Việt Nam, thị trường chứng khoán (TTCK) chính thức ra đời tương đối muộn – ngày 20/7/2000 – bằng việc khai trương Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (TP. Từ đó đến nay, TTCK Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ.

Cùng với đó, khái niệm công ty niêm yết (CTNY) đã trở nên quen thuộc với các nhà đầu tư (NĐT) chứng khoán và được sử dụng phổ biến. Theo quy định của Luật Chứng khoán 2019, Thông tư số 96/2020/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 16/11/2020 hướng dẫn công bố thông tin (CBTT) trên TTCK (Thông tư số 96/2020/TT-BTC) và các Quy chế CBTT tại Sở Giao dịch chứng khoán (SGDCK) TP.HCM được ban hành kèm theo Quyết định số 340/QĐ-SGDHCM ngày 19/8/2016 của Tổng Giám đốc SGDCK TP.HCM (HOSE), Quy chế CBTT tại SGDCK Hà Nội (HNX) được ban hành kèm theo Quyết định số 606/QĐ-SGDHN ngày 29/9/2016 của Tổng Giám đốc HNX, CBTT là nghĩa vụ bắt buộc đối vối các công ty đại chúng (CTĐC), CTNY, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, SGDCK, NĐT thuộc đối tượng CBTT,. Đối với CTNY, pháp luật Việt Nam hiện hành không có định nghĩa trực tiếp về CTNY. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, CTNY là công ty có một hoặc một số loại chứng khoán được giao dịch tại SGDCK.

Như vậy, CTNY có thể là loại hình công ty cổ phần (CTCP) hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH). Trong trường hợp là công ty TNHH, công ty chỉ có thể đưa trái phiếu vào giao dịch trên TTCK có tổ chức, còn đối với CTCP, công ty có thể niêm yết tất cả các loại chứng khoán. Tuy nhiên, qua khái niệm về CTĐC tại khoản 1 Điều 32 Luật Chứng khoán 2019 có thể thấy rằng, CTNY là một dạng CTĐC có cổ phiếu niêm yết tại SGDCK. Trong phạm vi Luận văn này, tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng khái niệm CTNY nên được hiểu theo nghĩa hẹp như sau: CTNY là CTCP có cổ phiếu được niêm yết tại SGDCK hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán3.

2 Lê Thị Thu Thủy (2007), “Quá trình xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về chứng khoán và TTCK ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12 (113), tr. 3 Phan Đăng Hải (2019), Quản trị CTNY theo pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, tr. 7 Theo Từ điển Oxford Learners Dictionaries, thông tin được định nghĩa: “Information (on, about somebody, something): facts or details about somebody, something”, tức thông tin về một chủ thể, sự vật, hiện tượng nào đó là sự thật hoặc chi tiết về chủ thể, sự vật, hiện tượng đó. Theo đó, thông tin trên TTCK được hiểu là “toàn bộ các thông tin (sự thật, chi tiết) về các chủ thể tham gia TTCK, phản ánh một cách tổng thể lẫn chi tiết về các chủ thể này”.

Với cách tiếp cận này, có thể hiểu thông tin của CTNY trên TTCK là toàn bộ hệ thống chỉ tiêu, tư liệu liên quan đến chứng khoán cũng như các tin tức, sự kiện phản ánh tình hình tài chính (tình hình sản xuất kinh doanh, các chỉ tiêu tài chính, cơ cấu nợ,.), tình hình quản trị nội bộ (mối quan hệ giữa cổ đông với Ban điều hành (BĐH), thông tin về cổ đông lớn, người nội bộ,.) tại từng thời điểm hoạt động của CTNY đó4. Cần nhấn mạnh rằng, CTNY không phải công bố tất cả thông tin liên quan đến hoạt động của mình. Để xác định thông tin nào cần phải công bố, một số quốc gia (như Thái Lan, Canada) áp dụng khái niệm “thông tin có tầm quan trọng” hoặc “thông tin trọng yếu” (Material Information) – những thông tin liên quan đến sự thay đổi trong hoạt động kinh doanh của công ty mà có tác động đáng kể đến giá chứng khoán của một tổ chức phát hành. Nhiều quốc gia khác như Việt Nam, Indonesia, Nhật Bản.

lại quy định cụ thể các thông tin mà các CTNY cần công khai rộng rãi ra công chúng đầu tư5. Theo Từ điển tiếng Việt: “CBTT là việc các chủ thể thông báo chính xác đến công chúng đầu tư các thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của mình cũng như các thông tin của thị trường theo các quy định của pháp luật”6. Dưới góc độ xã hội, có thể hiểu hoạt động CBTT là việc CTNY cung cấp rộng rãi các thông tin tài chính hoặc phi tài chính liên quan đến các mặt hoạt động của mình, mà công chúng đầu tư có thể dễ dàng tiếp nhận được thông tin đó. Dưới góc độ pháp lý, pháp luật chứng khoán hiện hành không đưa ra một định nghĩa hay diễn giải khái niệm hoạt động CBTT của CTNY mà chỉ quy định các chủ thể có nghĩa vụ CBTT dựa trên các tiêu chí xác định.

Theo Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), việc CBTT được định nghĩa như là một cách thức để đảm bảo rằng tất cả các bên quan tâm đều có thể tiếp cận thông tin thông qua một quy trình minh bạch để đảm bảo cho việc tìm kiếm và 4 Nguyễn Thị Ngọc Anh (2020), Nghĩa vụ CBTT của CTNY trên TTCK Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP. 5 Phạm Thị Hằng Nga (2014), CBTT của CTĐC trên TTCK theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 6 Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, tr. 8 thu thập thông tin được dễ dàng, bất kể mục đích tiếp cận thông tin là gì7.

Từ những định nghĩa vừa nêu, có hiểu khái niệm hoạt động CBTT của CTNY là hoạt động của CTNY cung cấp công khai các thông tin tài chính và phi tài chính liên quan đến hoạt động của mình để các cổ đông và công chúng đầu tư tiếp cận một cách dễ dàng nhất nhưng vẫn phải đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật. Đặc điểm của hoạt động công bố thông tin của công ty niêm yết Thứ nhất, hoạt động CBTT của CTNY là nghĩa vụ bắt buộc do pháp luật quy định Không chỉ Việt Nam mà tại các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc,… pháp luật đều quy định chặt chẽ về nghĩa vụ CBTT của các chủ thể liên quan trên TTCK. Khi hoạt động trên TTCK Hoa Kỳ, mỗi chủ thể tham gia thị trường như CTNY, công ty chứng khoán,… đều phải tuân thủ quy định CBTT của Luật Chứng khoán 1933, Luật về Giao dịch chứng khoán 1934 và Quy chế của Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC). Các quy định về nghĩa vụ CBTT nằm rải rác trong các điều khoản của hai đạo luật này, có thể kể đến như: nghĩa vụ CBTT về đơn đăng ký trở thành tổ chức phát hành chứng khoán, nghĩa vụ CBTT về việc được SEC chấp thuận đơn đăng ký trở thành tổ chức phát hành quy định tại Mục 7, nghĩa vụ CBTT về Báo cáo thường niên (BCTN), Báo cáo tài chính (BCTC) đã được kiểm toán quy định tại Mục 198,… Tại Việt Nam, hiện nay các chủ thể trên TTCK hoạt động phải tuân thủ quy định của Luật Chứng khoán 2019, đặc biệt hoạt động CBTT còn phải tuân thủ quy định tại Thông tư số 96/2020/TT-BTC và các Quy chế CBTT tại hai SGDCK là HOSE và HNX.

CTĐC có nghĩa vụ CBTT theo quy định của Luật Chứng khoán 20199; đồng thời, mỗi SGDCK đều có Quy chế CBTT bắt buộc đối với mọi chủ thể tham gia, trong đó bao gồm các CTNY. Có thể thấy, CBTT của CTNY trên TTCK không phải là một hoạt động tự phát của các chủ thể tham gia thị trường, mà là nghĩa vụ bắt buộc do pháp luật quy định. Thứ hai, hoạt động CBTT của CTNY là hoạt động thường xuyên Mục đích cuối cùng của nghĩa vụ CBTT của CTNY là cung cấp những thông tin về chủ thể một cách kịp thời, chính xác, thúc đẩy hoạt động giao dịch chứng khoán vận hành trôi chảy, đảm bảo quá trình hình thành giá cả mua – bán trên TTCK 7 Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) (2010), Cẩm nang QTCT, Hà Nội, tr. 8 Tạ Thanh Bình (chủ nhiệm đề tài) (2010), Hoàn thiện hệ thống CBTT của CTĐC, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, UBCKNN, tr.

9 Điểm a khoản 1 Điều 34 Luật Chứng khoán 2019. 9 được diễn ra hiệu quả. Chính vì lẽ đó, CBTT của các chủ thể tham gia TTCK phải diễn ra thường xuyên, liên tục, đây là một nguyên tắc và đặc điểm quan trọng của hoạt động CBTT. Thông qua việc CBTT, các NĐT thấy được diễn biến hoạt động của công ty một cách xuyên suốt, có thể đưa ra nhận định về xu hướng phát triển của công ty trong thời gian tới, từ đó có điều kiện thực hiện quyền sở hữu đối với phần vốn tại công ty mình đầu tư nhằm phát huy cao nhất lợi ích với tư cách là chủ sở hữu, nhất là với các cổ đông thiểu số, cổ đông là các NĐT không chuyên nghiệp.

Như vậy, CTNY thực hiện hoạt động CBTT để hướng đến mục tiêu công khai thông tin xảy ra trong quy trình quản lý, điều hành công ty một cách thường xuyên, liên tục, đảm bảo thông tin được công bố đến các NĐT, các cơ quan quản lý nhà nước không bị gián đoạn và chậm trễ. Đây là yếu tố then chốt giúp thị trường hoạt động hiệu quả, phát huy tính giám sát của thị trường đối với hoạt động của CTNY. Thứ ba, hoạt động CBTT của CTNY gắn liền với hoạt động của công ty và của TTCK Đặc điểm này của hoạt động CBTT xuất phát từ chính nội dung thông tin được công bố bởi các CTNY trên thị trường. Nội dung CBTT của các CTNY bao gồm các thông tin về BCTC, về các cổ đông lớn, về người nội bộ và người có liên quan,… Rõ ràng, đối với bản thân các CTNY, việc CBTT gắn liền với diễn biến hoạt động sản xuất, kinh doanh, tình hình quản trị nội bộ của công ty, là một kênh quảng bá khách quan về hình ảnh, thương hiệu, uy tín, năng lực của công ty trên thương trường.

Nếu tình hình sản xuất kinh doanh không hiệu quả, tình hình quản trị nội bộ lục đục, các giao dịch giữa công ty và người có liên quan của cổ đông nội bộ thiếu minh bạch, nghĩa vụ CBTT bị vi phạm nghiêm trọng sẽ dẫn đến giá trị cổ phiếu của công ty sụt giảm nhanh chóng, tỷ lệ thu hút đầu tư thấp, kéo theo đó là sự hoạt động yếu ớt của toàn TTCK.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ