phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn bao gồm hai chƣơng với năm tiết. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI 1.
Quan niệm về công bằng xã hội CBXH là vấn đề đƣợc đặt ra từ lâu trong lịch sử xã hội loài ngƣời, ngay từ khi con ngƣời ý thức đƣợc những bất công trong xã hội loài ngƣời. Do đó, nó là một trong những vấn đề quan trọng đƣợc con ngƣời, trong mọi thời đại, quan tâm và đƣa ra những cách giải quyết khác nhau. CBXH là một nội dung tất yếu của tiến bộ xã hội, trở thành một trong những mục tiêu mà con ngƣời hƣớng đến thông qua cuộc đấu tranh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Thực tiễn lịch sử xã hội loài ngƣời cũng luôn chứng tỏ rằng, sự phát triển của xã hội luôn vận động theo hƣớng đạt đến sự công bằng và bình đẳng ngày càng nhiều hơn.
Tuy nhiên, ở mỗi một thời kỳ lịch sử khác nhau, nội dung của CBXH lại đƣợc hiểu khác nhau. Một số quan niệm về công bằng xã hội trong lịch sử - Quan niệm về CBXH trong các xã hội tiền TBCN: Vào giai đoạn cuối của chế độ công xã nguyên thủy ở phƣơng Tây, cùng với sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, chế độ tƣ hữu xuất hiện dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp, tầng lớp khác nhau. Các nhà nƣớc cổ đại dần dần xuất hiện, mà ban đầu dƣới hình thức những thành bang, vốn là những thành trì do các bộ lạc xây dựng nên với mục đích phòng thủ, sau này nó phát triển lên thành trung tâm của nhà nƣớc chiếm hữu nô lệ. Mỗi một thành bang đều có các tổ chức chính trị và hành chính riêng, có sinh hoạt kinh tế, xã hội, phong tục tập quán riêng, có thần bảo hộ và các nghi thức tôn giáo riêng.
Việc sử dụng các công cụ bằng sắt trong sản xuất thủ công nghiệp đã khiến cho thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp, sản xuất hàng hóa phát triển đã kích thích thƣơng nghiệp và mậu dịch hàng hải phát triển. Các khoa học tự nhiên nhƣ thiên văn học, khí tƣợng, vật lý, toán học cũng do vậy mà phát sinh và phát triển. Giao lƣu văn hóa với các nƣớc 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vùng Cận Đông đã biến các thành phố ở các quốc gia cổ đại, đặc biệt là Hy Lạp, La Mã cổ đại, trở thành các trung tâm văn minh lớn của Châu Âu thời bấy giờ. Sự phát triển về kinh tế - xã hội nhƣ vậy làm biến đổi cơ cấu xã hội – giai cấp và phá hủy công xã nông thôn.
Trong xã hội, một lực lƣợng đông đảo những ngƣời nô lệ đƣợc hình thành, là lực lƣợng lao động chủ yếu trong xã hội, nhƣng họ chỉ đƣợc coi là “công cụ biết nói”, không đƣợc hƣởng một chút quyền lợi gì. Nhà nƣớc lúc bấy giờ là nền chuyên chính tàn bạo của giai cấp chủ nô, giai cấp thống trị trong xã hội. Bởi vậy xã hội chiếm hữu nô lệ càng phát triển thì đấu tranh giai cấp giữa chủ nô và nô lệ, giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo càng ngày càng gay gắt. Việc sử dụng rộng rãi sức lao động của nô lệ là một trong những nguyên nhân làm cho lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay.
Nền kinh tế chiếm hữu nô lệ đã sinh ra một đội ngũ trí thức đông đảo chuyên nghiên cứu triết học, khoa học. Tuy vậy, đội ngũ trí thức này đều xuất thân từ tầng lớp trên của xã hội, do vậy các tƣ tƣởng của họ chủ yếu nhằm phục vụ và bảo vệ cho giai cấp chủ nô. Trong quan niệm của hầu hết các nhà tƣ tƣởng thời kỳ cổ đại ở phƣơng Tây, công bằng và bình đẳng xã hội bị giới hạn bởi lập trƣờng giai cấp. Theo họ, trong xã hội cần phải duy trì các hạng ngƣời khác nhau và do đó không thể có bình đẳng hoàn toàn giữa mọi ngƣời.
Theo đó, công bằng là công bằng giữa những ngƣời trong cùng một đẳng cấp chứ không phải giữa những ngƣời ở các đẳng cấp khác nhau.CN), một trong những nhà tƣ tƣởng kiệt xuất thời cổ đại đã có những quan điểm cụ thể về công bằng và bình đẳng xã hội. Trong hai tác phẩm “Nhà nƣớc” và “Luật lệ”, Platon đã khẳng định không có sự bình đẳng giữa các tầng lớp ngƣời khác nhau trong xã hội. Từ đó, ông cho rằng, cần phải duy trì các hạng ngƣời khác nhau, thực hiện các dạng phân công lao động khác nhau nhằm thỏa mãn các nhu cầu xã hội. Nhƣ vậy, theo Platon, trong xã hội đƣơng thời hoàn toàn không có sự bình đẳng và điều đó là tất yếu.
Tuy nhiên, trong quan niệm của Platon, mặc dù xã hội không có sự bình đẳng nhƣng vẫn có công bằng, bởi lẽ công 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bằng là ở chỗ mỗi hạng ngƣời dù ở địa vị xã hội nào cũng phải làm hết trách nhiệm của mình, sống đúng tầng lớp của mình và biết đƣợc thân phận của mình.CN), nhà triết học vĩ đại của nền văn minh Hy Lạp cổ đại, cho rằng, công bằng là phạm trù gắn với nhà nƣớc, bởi luật pháp – tiêu chuẩn của sự công bằng – là quy phạm điều chỉnh mọi sự giao tiếp chính trị - xã hội. Trên cơ sở pháp luật, tùy thuộc vào sự cống hiến của mỗi ngƣời mà họ đƣợc hƣởng thụ một cách tƣơng xứng. Với quan niệm này, Aritstot đã hƣớng CBXH tới lĩnh vực phân phối trên cơ sở pháp luật. Tuy vậy, cũng nhƣ Platon, do chƣa thoát khỏi lập trƣờng giai cấp của mình, Aritsot quan niệm công bằng là sự bình đẳng giữa những ngƣời có cùng địa vị xã hội, theo đó mỗi ngƣời phải sống đúng với địa vị xã hội của mình.
Bản thân sự bất bình đẳng giữa các đẳng cấp trong xã hội cũng là công bằng. Trong xã hội phong kiến châu Âu, dƣới sự thống trị của giáo hội và nhà thờ, các nhà tƣ tƣởng thời kỳ này hầu nhƣ không đƣa ra đƣợc một quan niệm đáng chú ý nào về CBXH và tiến bộ xã hội. Sự vận động của xã hội và bản thân con ngƣời sống trong xã hội đó đều đƣợc quan niệm là bị điều khiển và an bài bởi Thƣợng đế, con ngƣời không có vai trò gì trong quá trình vận động của xã hội. Khát vọng về CBXH trong thời kỳ này đƣợc thể hiện chủ yếu thông qua các cuộc đấu tranh, khởi nghĩa đơn lẻ.
- Quan niệm về CBXH trong xã hội TBCN: Bƣớc sang giai đoạn Phục Hƣng ở Châu Âu (khoảng từ cuối thế kỷ XIV – XVIII), quan hệ sản xuất TBCN dần dần xác lập đƣợc địa vị của mình, xã hội cũng dần thoát khỏi sự thống trị của chế độ phong kiến và những quan điểm thần học trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học thực nghiệm, nền sản xuất công nghiệp cũng có những bƣớc phát triển mới. Các công trƣờng thủ công, hình thức sản xuất mang tính chất TBCN đầu tiên ra đời, thay thế phƣờng hội, tập trung dần năng lực sản xuất. Bên cạnh đó, công cụ sản xuất nông nghiệp cũng đƣợc cải tiến, đất đai canh tác đƣợc mở rộng; sản xuất, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trao đổi hàng hóa có những bƣớc tiến dài, phá vỡ khuôn khổ tự cung tự cấp.
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa, mức độ trao đổi hàng hóa ngày càng mở rộng hơn và ở trình độ cao hơn. Sự xuất hiện và ngày càng phát triển của phƣơng thức sản xuất TBCN nhƣ một xu thế của lịch sử đã làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp tƣ sản cùng hệ tƣ tƣởng tƣ sản với giai cấp địa chủ phong kiến và hệ tƣ tƣởng Cơ đốc giáo ngày càng sâu sắc. Chính mâu thuẫn đó đã thúc đẩy hàng loạt các cuộc cách mạng tƣ sản nổ ra trên khắp lãnh thổ Châu Âu. Những cơ sở kinh tế - xã hội này đã khiến cho nội dung của những tƣ tƣởng về CBXH không còn bị bó hẹp trong phạm vi của những đòi hỏi về quyền bình đẳng ở địa vị xã hội, mà đã ngày càng dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá của nền sản xuất hàng hóa, sử dụng nó nhƣ là thƣớc đo của CBXH.
Tuy nhiên, trong nền sản xuất hàng hóa TBCN, mặc dù quan hệ trao đổi ngang giá đƣợc coi là thƣớc đo của CBXH, nhƣng quan hệ phân phối lại lệ thuộc vào quan hệ chiếm hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất. Cho nên thƣớc đo ấy của CBXH chỉ là công bằng đối với những ngƣời sở hữu tƣ liệu sản xuất, ngƣợc lại là sự bất công và bất bình đẳng đối với những ngƣời chỉ sống dựa vào sức lao động của mình. Giải pháp để giải quyết vấn đề xã hội nhằm phát triển kinh tế cũng chỉ mang tính chất nửa vời, và chỉ đƣợc chính phủ tƣ sản xem là phƣơng tiện để duy trì sự tồn tại của chế độ TBCN. Vì thế, trong CNTB, CBXH chỉ là phƣơng tiện chứ không phải là mục đích.
Quan niệm về bình đẳng và tự do trong thời kỳ này không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc tiếp thu và khôi phục lại các tƣ tƣởng truyền thống, mà còn phát triển với những màu sắc riêng của thời đại lịch sử. Đa số các nhà tƣ tƣởng tiến bộ trong thời kỳ này, trong khi đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế với nền tảng tƣ tƣởng của nó là thần học, cũng nhƣ phê phán tính trạng bất công nảy sinh trong xã hội TBCN, họ đều đƣa ra những mô hình xã hội mới xây dựng trên mô hình của tự nhiên. Đồng thời, các nhà tƣ tƣởng luôn đề cao con ngƣời và các quyền của con ngƣời trong xã hội. Tình hình đó thúc đẩy hình thành những quan niệm mới về 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CBXH, tiến bộ xã hội, khi nhiều nhà tƣ tƣởng coi công bằng và bình đẳng là tiêu chuẩn để đánh giá một xã hội tiến bộ.
Tiếp thu tƣ tƣởng của các đại biểu thời kỳ Phục hƣng, các nhà XHCN không tƣởng mà tiêu biểu là ba nhà XHCN không tƣởng – phê phán nửa đầu thế kỷ XIX ở Pháp và Anh là Xanh-Xi-mông (1760 – 1825), S.Ô-oen (1771 – 1858) đều cho rằng trong xã hội TBCN không thể có CBXH. Theo các ông, chế độ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất chính là nguyên nhân làm nảy sinh và làm trầm trọng thêm sự bất công trong xã hội.