Chương 1 TRUYEN THONG VA QUY TRINH TRUYEN THONG Từ thập niên 1930, cùng với sự ra đời và phát của phát thanh, truyền hình, bên cạnh khái niệm báo chí, khái niệm truyện thông đã trở nên quen thuộc và phé biến trong xã hội phương Tây. Theo đó ngành nghiên cứu truyền thông cũng được hình thành và đem lại những kiến giải sâu sắc, hệ thống về quy trình, bản chất, hiệu quả, tác động của hoạt động truyện thông trong. cuộc sống và lịch sử. Ở Việt Nam truyền thông và các khái niệm liên quan đến lĩnh vực này được dé cập nhiêu từ khi đất nước thực hiện công cuộc Đổi mới, hội nhập quốc tế (1986).
Hiện nay, diện mạo, tính chất, quy mô của báo chí và truyền thông Việt Nam đã thay đổi mạnh mẽ và có những phươn, diện tương đồng với báo chí và truyền thông khu vực và thé gi Năm 2007, Bộ Văn hóa và Thông tin đổi tên thành Bộ Thông tin và Truyền thông; khoa báo chí ở một số trường đại học đều đổi tên thành Khoa Báo chí và Truyền thông; và tính đến năm 2009, cả nước có gan 2.000 công ty truyền thông đang, hoạt động. tế đó đòi hỏi ngành nghiên cứu báo chí và truyền thông Việt Nam phải có những bước tiến tương xứng để khẳng định chỗ đứng của mình. Những khái niệm cơ bản về truyền thông 1. Thông tin Khái niệm thông tin (information) hiện nay thường được dùng với ba nghĩa: 13 Thứ nhất, thông tin là hoạt động truyền tải, chuyển giao tin tức từ người này đến người khác và thường chỉ diễn ra một chiều, từ chủ thể phát tin đến chủ thể tiếp nhận tin.
Ở đây thông, tin có nghĩa như truyền thông, đúng hơn chỉ là một kiểu dạng truyền thông, cụ thể. Các thông báo, chỉ thị, nghị quyết của đảng và nhà nước cầm quyền phổ biến cho cấp dưới và người dân thực hiện, được coi là hoạt động thông tin. Tương tự, báo chí ở Viet Nam thời bao. cấp phổ biến tin tức một chiều từ trên xuống, chủ yếu là làm nhiệm vụ thông tin.
Tin nhắn qua điện thoại, email của các công ty dịch vụ hoặc cá nhân mà không có sự phản hồi cũng là thông tin. Thứ hai, thông tin là nội dung của thông điệp được truyền tải, được chuyên giao giữa chủ thé phat tin va chi thé tiếp nhận tin. Một thông điệp rõ ràng, mới lạ, hấp dẫn, hữu ích là một thông điệp có thông tin. Một bài báo ngắn nhưng để lại ấn tượng mạnh nơi độc giả là một bài báo có thông tin.
Ngược lại, một bài báo dài nhưng đọc xong không đọng lại trong đầu điều gì cả thì đó là một bài báo không có thông tin. Thứ ba, thông tin là đối tượng, phương tiện và chất liệu của hoạt động báo chí. Thông tin là một trong những khái niệm hạt nhân của báo chí, nó có tầm quan trọng như khái niệm hình tượng trong lĩnh vực văn học, khái niệm hàng hóa trong lĩnh vực kinh tế, khái niệm vật chất trong lĩnh vực triết học. Ở đây thông tin có nghĩa như tin tức! (news).
1 “là những gì thời sự, trung thực và hắp đẫn công chúng” (Xem: Leonard Ray Teel-Ron Taylor (1993), Bute vio Nghẻ báo, NXB TP.HCM, trang 214; là “những thông tin mà trước đó không biết" (Xem: Đình Thị Thúy Hằng (2008), Báo “tí thể giới và xu hướng phát triển, NXB Thông Tắn, Hà Nội, trang 42); là những. uyện khác thường trong cuộc sống, như câu nói nỗi tiếng của Charles Anderson ana: “Chỏ cắn người không phải la tin nhưng người cần chỏ là tin” (Xem: Eva- ia Worland and Ami Anderson (2010), Cẩm nang phóng viền, Bộ Thông tỉn và Truyén thông-Đại sứ quán Thụy Điền tại Việt Nam, Hà Nội, trang 27). 14 Như vậy, thông tin là phương thức, là phẩm chất, là đặc trưng của hoạt động báo chí và truyên thông. Truyền thông Trong từ Hán Việt, truyền là “chuyển đi, trao cho”; thông có nghĩa “đi suốt qua, hai bên hiểu nhau”.
Truyền thông là sự chuyển đi thông điệp đến một đối tượng khiến cho hai bên (người chuyển và người nhận) có thê hiểu nhau. một trận giao tranh, bỗng một bên giơ cờ trắng, bên kia ngưng tiến công. Đó là một hình thức truyền thông. Sở Khanh trao cho Thúy Kiểu chiếc quạt có hai chữ Tích Ƒiệ: (nghĩa là giờ tuất, ngày 21 thì chạy) cũng là một hình thức truyền thông.
Trong tiếng Anh, truyền thông (communication) cũng gần với ý nghĩa trên, là “quá trình truyền đạt thông tin từ một chủ thé phát tin đến các đối tượng khác. Đó là sự tác động hoặc trao. đối ý tưởng, quan điểm, thông tin bằng lời nói, chữ viết, ký hiệu. Chang han, giáo vụ khoa gửi email báo cho lớp sáng nay có giờ môn Cơ sở lý luận Báo chí và Truyền thông để sinh viên đi học.
Hoặc ngày 27/9/2007, đồng loạt các báo đều đưa tin cầu Cần Thơ bị sập hai ue. dẫn, gây hậu quả thảm khốc để bạn đọo cùng quan tam, chia sé. Trong xã hội hiện đại, hoạt động truyền thông hết sức đa dạng với nhiều mục đích, phương tiện và nội dung khác nhau nên quan niệm và cách hiểu về truyền thông cũng rất phong phú. Tùy góc độ, phương pháp và mục đích nghiên cứu, các nhà khoa học đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông.
Trong công trình Khái niệm cơ bản về truyền thông (1970), Frank Dance đã ghi nhận đến 15 giới thuyết của các học giả trên thé giới về truyền thông”. Trong đó, George Herbert Mead (1863- ? Xem: Nguyễn Đình Lương (1993), Mghẻ báo nói, NXB Văn hoa-Théng tin, Ha Nội, trang 18-20. 15 1931) dua ra quan niém rat ip đáng chú ý. Ông cho rằng truyền thông thực chat là một sự tương tác: “Sự tương.
tác, ngay cả ở mức sinh vật cũng là một dạng truyền thông, bằng không sẽ không. thể có hành động chung”. # Thực tế những khám phá khoa học gần đây về thế giới tự nhiên đã xác nhận quan Ong “trình sát” thường sử dụng. Mead là hoàn "vũ điệu cơ.
thé” dé thông báo. Bởi vì các loài ho đồng loại về nơi có mật hoa động vật mang tính xã hội như đàn kiến, bẦy ong, đàn khi. đều có hành vi thông tin cho nhau bằng một hệ thống “ngôn ngữ quy ước” đơn giản hay phức tạp của chúng. Nếu không thì không thể giải thích được vì sao các loài động vật này lại có một trật tự khá rõ ràng trong “nội bộ tổ chức” của chúng cũng như vì sao chúng có những hành động giống nhau hoặc phối hợp nhau một cách “ăn ý” trong việc tìm kiếm thức ăn hay trốn tránh kẻ thù.
Như vậy, truyền thông là một hoạt động cơ bản và phổ biến của bắt kỳ tổ chức nào mang tính xã hội. Với_ ý nghĩa là một hoạt động thực tiễn, truyền thông gan bó chặt chẽ với lịch sử phát triển của nhân loại. Có thể nói, loài người xuất hiện và tôn tại bao lâu thì hoạt động truyền thông cũng xuất hiện va tổn tại bẩy lâu. Nhờ có hoạt động truyền thông mà con người liên kết thành xã hội; tổ chức được các hoạt động mang tinh taj truyền đạt được những tri thức và kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm ứng xử cho các thế hệ sau; nhận thức được ngoại giới và bản thân ngày càng đầy đủ, sâu sắc.
Thế giới ngày nay - như quan niệm của Thomas L. Friedman - đang 16 trở nên “phẳng” hơn, một phần là do hoạt động truyền thông của con người mang lại”. Đến đây, có thể giới thuyết về truyền thông nhu sau: Tr uyền thông là hoạt động có ý thức của con người. Đó là quá trình trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng bằng một hệ thống ký hiệu quy ước nhằm tạo sự liên lạc với nhau đề có thể dẫn tới những thay đổi trong nhận thức và hành vi.
Truyền thông đại chúng 3.1 Cách phân loại truyền thông Hoạt động truyền thông vốn đa dạng nên có nhiều cách phân loại khác nhau. Sự phân loại này giúp hình dung rõ hơn khái niệm truyền thông đại chúng.1 Dựa vào chất liệu, phương tiện truyền thông Các nhà khoa học chia truyền thông thành hai loại: truyền thông bằng ngôn ngữ (verbal) và truyền thông phi ngôn ngữ (non-verbal). Truyền thông bằng ngôn ngữ là truyền thông bằng lời nói, chữ viết hay hình ảnh, ký hiệu đã được quy ước. Chẳng hạn, trò chuyện, thư từ, đọc sách, xem phim.
Truyén thông phi ngôn ngữ là truyền thông, bằng động tác, cử chỉ hay điệu bộ để biểu hiện một cảm xúc, thái độ nào đó. Vi dụ, tròn mắt là thể hiện sự ngạc nhiên, khó hiểu; gật đầu là biểu hiện sự any vw 3 Thể giới phẳng (The World is Plat-2006), NXB Tré. * Xem: Trần Hữu Quang (2006), Xã hồi ñọc báo chí, NXB Trẻ-Thời báo Kinh tế Sai Gòn-Trung tâm Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, trang 4; Melvin L. Dennis (1991), Understanding Mass Communication, Fourth Edition, Houghton Mifflin Company, Boston, page 5.2 Dựa vào số lượng người tham gia truyén thong Có người chia truyền thông thành ba loại như Trần Hữu Quang’, có người chia làm sáu loại như Denis MeQuailẾ.
Còn các nhà truyền thông học Hoa Kỳ chủ trương chia thành năm loại điển hình”. Đó là truyền thông nội nhân, truyền thông liên cá nhân, truyền thông trong nhóm nhỏ, truyền thông trong nhóm lớn và truyền thông đại chúng. Truyén thông nội nhân (intrapersonal communication) la sự trao đổi thông tin giữa mình với ta, nghĩa là không ai khác có thể nhận được thông điệp, ngoài bản thân. Chẳng hạn, khi ta nghĩ về một nước đi trong ván cờ tưởng tượng, nhâm một bài hát cho mình tự nghe, viết những dòng nhật ký.
Truyền thông liên cá nhân (interpersonal communication) là sự trao đổi thông tin giữa hai người như trường hợp trò chuyện mặt đối mặt, hoặc thư từ qua lại, hoặc điện đàm với nhau. Truyền thông liên cá nhân còn được gọi là truyền thông giữa hai điểm (point to point communication). Truyền thông trong nhóm nhỏ (small group communication). Trường hợp có trên hai người thông tin với nhau gọi là truyền thông trong nhóm.
Nếu muyền thông diễn ra với sự tham gia dưới 10 người gọi là truyền thông trong nhóm nhỏ. Chăng hạn, một nhóm sinh viên họp mặt để bàn về kỳ thi sắp đến, hoặc nhóm chơi trong các gameshow tập thể (Hát với ngôi sao, Tôi yêu thể thao, Tam sao thất bản, Chưng sức.) hội ý để đưa ra câu trả lời cuối cùng. * Mass Communication Theory (1987), Second Edition, Sage Publication, London, page 6. 7 Xem: Joseph Straubhaar-Robert LaRose (2000), Media Now, Third Edition, Wasworth Thomson Learning, page 20-21.
18 Truyén théng trong nhóm lớn (large group communication) lla trường hợp truyền thông có từ trên 10 người đến vài trăm người tham gia.