CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUY HOẠCH VÙNG LÃNH THỔ TS: 8 = LT: 6 + TL: 2 2.1 Các yếu tố cơ bản của sản xuất xã hội Trong tiến trình phát triển của sản xuất xã hội cho đến nay, người ta đã xác định 5 yếu tố cơ bản của sản xuất xã hội: - Lao động - Đất đai - Vốn - Khoa học - Quản lý 2.1 Lao động Bước vào thập kỷ 90, nước ta có 66 triệu dân với 33 triệu người trong độ tuổi lao động, năm 2000 có khoảng 80 triệu dân với 40 triệu lao động. Năm 2012 sẽ vượt trên 88 triệu người và tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động là ~ 46,48 triệu người. Tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 48,7% năm 2010 xuống 48,0% năm 2011; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 21,7% lên 22,4%; khu vực dịch vụ duy trì ở mức 29,6% • Cơ cấu dân số Việt Nam đã chuyển từ cơ cấu dân số trẻ sang giai đoạn cơ cấu tuổi thuận lợi, với nguồn nhân lực dồi dào nhất từ trước đến nay (64,5% trong độ tuổi lao động) • Một nghiên cứu của WB (3/2008) cho thấy: lao động Việt Nam chỉ đạt 32/100 điểm. Trong khi đó, những nền kinh tế có chất lượng lao động dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu • Người Việt Nam chúng ta có những hạn chế về thể lực, kiến trúc, tay nghề, còn mang thói quen sản xuất lạc hậu và dấu ấn của cơ chế quan liêu bao cấp, song con người Việt Nam có truyền thống yêu nước, cần cù, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học công nghệ, có đầu óc tìm tòi học tập và sáng tạo • Các tiêu chí đánh giá chất lượng lao động do WB đưa ra bao gồm những kết quả chung về hệ thống giáo dục và đào tạo nhân lực; mức độ sẵn có của lao động chất lượng cao; mức độ sẵn có của nhân lực quản lý hành chính chất lượng cao; sự thành thạo tiếng Anh và sự thành thạo về kỹ thuật và công nghệ tiên tiến.TS Nguyễn Đại Thành (Bộ GDĐT) khẳng định: nguồn lao động của nước ta có năng suất lao động quá thấp, đứng thứ 77/125 nước và vùng lãnh thổ, sau cả Indonesia, Philippine và Thái Lan.
• Một số liệu khác cho biết: Ngay tại Thủ đô, có chưa tới 15% lực lượng lao động biết tiếng Anh và sử dụng thành thạo máy vi tính. Tỷ lệ lao động không có chuyên môn ở Hà Nội hiện là 41,4%, Hải Phòng 64%, Đà Nẵng 54,4%, TP.Hồ Chí Minh 55% và Bà Rịa Vũng Tàu là 62,9%. Với chất lượng lao động như vậy, chúng ta có nguy cơ thua ngay trên chính sân nhà. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp không dám sử dụng lao động Việt Nam cho những vị trí cần kiến thức và tay nghề cao, nên sẽ có lúc chúng ta phải nhập khẩu lao động chất lượng cao từ nước ngoài vào • Trình độ lực lượng lao động viên chức: Kết quả điều tra 195.422 cán bộ, công chức hành chính của 32 Bộ ngành Trung ương, 64 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương (kể cả 671 quận, huyện trong cả nước) và 192.438 cán bộ, công chức đang làm việc ở 10.848 xã, phường, thị trấn trong cả nước cho thấy, trong tổng số 195.422 cán bộ công chức hành chính cả nước có 56 người có trình độ tiến sĩ khoa học, 1.044 người có trình độ tiến sĩ, 4.140 người có trình độ đại học.
Về trình độ lý luận chính trị, 10,43% có trình độ cao cấp, 30,21% có trình độ trung cấp. Về ngoại ngữ, trình độ D chiếm tỷ lệ 1,39% , trình độ C: 8,55% , trình độ B: 41,64%, người chưa học ngoại ngữ: 30,32%. Về trình độ tin học, chỉ có 1,98% có trình độ C, 40,22% có trình độ B, 25,4% chưa học tin học. • Về trình độ văn hoá: Trong tổng số 192.438 cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn, 75,45% có trình độ trung học phổ thông, trung học cơ sở chiếm 21,48%.
Về chuyên môn nghiệp vụ: có 9 người có trình độ tiến sĩ, 41 thạc sĩ, 14.244 người có trình độ đại học, 3.147 người có trình độ cao đẳng, 93.816 người chưa qua đào tạo (chiếm 48,75%). Về trình độ lý luận chính trị, 4,08% có trình độ cao cấp, 38,15% có trình độ trung cấp, 22,94% có trình độ sơ cấp. Trong tổng số cán bộ công chức cấp xã, số người chưa học ngoại ngữ chiếm 94,22% , chưa học tin học chiếm 87,30% • Kết quả đánh giá các chỉ số nhân lực ở Việt Nam cho thấy, tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng vẫn tiếp tục diễn ra ở các ngành nghề dệt may, da giày, gỗ, du lịch. Chỉ số cầu nguồn nhân lực của hầu hết ngành nghề tăng đáng kể và tập trung vào các lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn và trình độ cao • Mặc dù thiếu lao động có trình độ, nhưng hiện nay ở Việt Nam tình trạng đào tạo “thừa thầy thiếu thợ” đã xảy ra trong những năm gần đây, do nhiều năm qua chúng ta đã duy trì một cơ cấu đào tạo bất hợp lý.
• Năm 1989, cơ cấu đào tạo đại học và cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, công nhân học nghề theo tỷ lệ: 1-1,16 - 0,96. • Đến năm 1999 tỷ lệ trên là 1 - 1,13 - 0,92, trong khi đó tỷ lệ này được thế giới xác định hợp lý thường là 1- 4 -10, nghĩa là cấu trúc đào tạo theo hình chóp. • Cơ cấu đào tạo bất hợp lý dẫn đến tình trạng sinh viên tốt nghiệp ra trường thiếu việc làm nghiêm trọng. Các ngành sản xuất và chế biến công nghiệp đòi hỏi nhiều công nhân có tay nghề cao thiếu lao động trầm trọng.
Tại các cơ sở đào tạo thì số lượng giảng viên chưa đáp ứng được sự gia tăng về quy mô người học và còn nhiều hạn chế về năng lực chuyên môn, kỹ năng thực hành và khả năng sử dụng tiếng Anh. Tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên rất thiếu.2 Tài nguyên thiên nhiên • Đất: - Tổng số vốn đất đai tự nhiên của Việt Nam là 33 triệu ha, đứng hàng thứ 58 so với các nước trên thế giới, song diện tích đất tự nhiên trên đầu người thấp: 0,5ha. Đất nông nghiệp hiện có 6,9 triệu ha, chiếm 21% so với đất tự nhiên; S đất NN/đầu người thấp 0,1 ha (thế giới: 1,2ha). - Đất canh tác ít, khả năng mở rộng có hạn, chỉ có thể thâm canh tăng vụ 2.2 Tài nguyên thiên nhiên • Đất: (tiếp) - Chất lượng: 20% diện tích là đất tốt (2,4 triệu ha đất đỏ Bazan ở vùng đồi núi, 3 triệu ha đất phù sa và một số diện tích là đất tốt của các loại đất khác: Đất đen, đất đỏ vàng, đất thung lũng,.), còn lại là khô hạn, úng, mặn, phèn, nghèo chất dinh dưỡng, quá nông.
Nhận định tổng quát về đất: • Đất Việt Nam có nhiều loại, đa dạng cho phép trồng được nhiều loài cây. • Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm nên một số loại đất có tầng dày, chất hữu cơ, khoáng hoá mạnh nên hàm lượng chất dễ tiêu khá, đất thực sự tốt đối với nhiều loài cây đặc sản nhiệt đới. • Mặt khác cũng do khí hậu nhiệt đới ẩm, đất Việt Nam dễ bị xói mòn, mùn dễ khoáng hoá, các chất dinh dưỡng dễ bị hoà tan và rửa trôi nên kết quả là đất thoái hoá nhanh, diện tích đất xấu nhiều hơn đất tốt. • Công tác quản lý sử dụng, cải tạo chưa hiệu quả và thật hợp lý.2 Tài nguyên thiên nhiên (tt) Rừng: • Diện tích đất rừng là 9,6 triệu ha, chiếm 29% so với đất tự nhiên.
Cảnh quan rừng Việt Nam rất đa dạng. Rừng xanh quanh năm, rừng già nguyên thủy, rừng cây lá rộng, rừng cây lá kim, rừng cây thứ cấp, rừng cây bụi, sa van cỏ,. • Độ che phủ rừng cả nước giảm từ từ 40,7% vào 1940 xuống chỉ còn 27,7% vào1993. Có những thời gian độ che phủ chỉ còn 20%, nhiều nơi như Tây Bắc, Việt Bắc ven biển miền trung, khu IV cũ,.
diện tích rừng che phủ chỉ còn 7,8%. • Hiện nay độ che phủ của rừng đang tăng (bình quân khoảng 0,5%/năm) năm 2009 là: 39,1%; 2010: 39,5%; 2011: 40% Rừng (tt) • Tính đến nay khoảng 2/3 diện tích rừng tự nhiên đã bị khai thác quá lạm dụng, làm rừng giảm chất lượng và mất trữ lượng một nửa. Các diện tích rừng còn lại phần lớn là rừng nghèo kiệt, trữ lượng gỗ thấp và hiếm có loài cây có giá trị kinh tế.2 Tài nguyên thiên nhiên Nước: • Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển. Nguồn nước mặt, thường được gọi là tài nguyên nước mặt, tồn tại thường xuyên hay không thường xuyên trong các thuỷ vực ở trên mặt đất như: sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng và băng tuyết.
Tài nguyên nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, được sử dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất. Do đó, tài nguyên nước nói chung và tài nguyên nước mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia. • Nguồn nước Việt Nam khá dồi dào, đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống. Song việc quản lý sử dụng chưa tốt.
Nguồn thủy năng có thể khai thác trên nhiều vùng, cung cấp một phần năng lượng đáng kể. • Mức bảo đảm nước trung bình/người/năm từ 12.800 m3/người vào năm 1990, giảm còn 10.900 m3/người vào năm 2000 và có khả năng chỉ còn khoảng 8500 m3/người vào khoảng năm 2020. • Mức bảo đảm nước này > 2,7 lần so với Châu Á (3970 m3/người) và 1,4 lần so với thế giới (7650 m3/người), nhưng nguồn nước lại phân bố không đều giữa các vùng. Do đó, mức bảo đảm nước hiện nay của một số hệ thống sông khá nhỏ: 5000 m3/người đối với các hệ thống sông Hồng, Thái Bình, Mã và chỉ đạt 2980 m3/người ở hệ thống sông Đồng Nai.
• Theo Hội Nước Quốc tế (IWRA), mức bảo đảm nước/người/năm <4000 m3/ng thì thuộc loại thiếu nước và <2000 m3/người thì thuộc loại hiếm nước. • Theo tiêu chí này, nếu xét chung cho cả nước thì nước ta không thuộc loại thiếu nước, nhưng không ít vùng và lưu vực sông hiện nay đã thuộc loại thiếu nước và hiếm nước, như vùng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận, hạ lưu sông Đồng Nai.2 Tài nguyên thiên nhiên Khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản là một nguồn lực và lợi thế quan trọng: Dầu khí, than, bốc xít, apatít, quạng sắt,. song chưa được khảo sát kỹ và mới được khai thác ở mức thấp.