Chương 1 đến 24 của Hệ thống cân đối (HS) (gồm: Động vật sống và các sản phẩm từ động vật; Các sản phẩm thực vật; Mỡ và dầu động vật hoặc thực vật, các sản phẩm lấy từ mỡ hoặc dầu động vật hoặc thực vật, mỡ chế biến làm thực phẩm các loại, sáp động hoặc thực vật; Thực phẩm chế biến, đồ uống, rượu mạnh và giấm; thuốc lá và các chất thay thế thuốc lá chế biến) và các nguyên liệu nông nghiệp thô/các sản phẩm chưa chế biến tương tự được nêu trong các đề mục của Hệ thống cân đối; và các sản phẩm đã qua sơ chế nhưng hình thức không thay đổi nhiều so với sản phẩm gốc. Tóm lại, khái niệm nông sản có thể hiểu một cách khái quát như sau: hàng nông sản là những sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp thực hiện những công việc gì thì có những loại nông sản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 tương ứng kể cả trong trồng trọt, chăn nuôi gia cầm, gia súc, bao gồm các sản phẩm thu hoạch trực tiếp từ cây trồng, vật nuôi và các sản phẩm chế biến từ cây trồng, vật nuôi đó. Đặc điểm của mặt hàng nông sản Thứ nhất, việc sản xuất và xuất khẩu nông sản có những điểm đặc biệt -Hoạt động xuất khẩu nông sản phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.
-Giá cả sản phẩm nông sản xuất khẩu không ổn định. -Hoạt động xuất khẩu nông sản cần được Nhà nước đưa ra chính sách quản lý phù hợp. Thứ hai, nông sản là một loại hàng hóa “nhạy cảm” trong thương mại -Thương mại hàng nông sản liên quan đến lợi ích của một số bộ phận lao động vốn có thu nhập thấp ở cả các nước phát triển và đang phát triển. -Mỗi quốc gia đều có nhu cầu đảm bảo nguồn cung lương thực ổn định trong hoàn cảnh thị trường nông sản thế giới thường xuyên có biến động về thu hoạch và các nguy cơ đang rình rập nó.
Thứ ba, sản xuất nông sản có nhiều đặc điểm khác với các ngành sản xuất khác -Sản xuất nông sản mang tính thời vụ và tính khu vực rõ rệt. -Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông sản lại bị giới hạn về diện tích. -Xu hướng sản xuất nông sản theo phương thức sản xuất hữu cơ, theo quy trình sản xuất sạch, đảm bảo dinh dưỡng và an toàn vệ sinh thực phẩm phải được đặt lên hàng đầu và sẽ trở thành một lợi thế nếu quốc gia nào biết nắm bắt và đầu tư sản xuất theo hướng này. Thứ tư, nông sản mang tính thiết yếu (hầu hết nông sản là những sản phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu) Tính thiết yếu của nông sản thể hiện ở việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu cơ bản của con người.
Đảm bảo nhu cầu về lương thực không chỉ là yêu cầu duy nhất của nông nghiệp, mà còn là cơ sở phát triển các mặt khác của đời sống kinh tế - xã hội. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Thứ năm, tiêu thụ nông sản có những khác biệt so với các sản phẩm khác Đặc điểm quan trọng của nông sản là tính chất tươi sống của sản phẩm và sản xuất, thu hoạch theo mùa vụ và theo khu vực. Mỗi loại có một hình thức tiêu thụ và chế biến riêng: yêu cầu tươi, sản phẩm chế biến đòi hỏi công nghệ đặc thù và giữ được hương vị, màu sắc tự nhiên; yêu cầu chất lượng tiêu dùng ngày càng cao, đòi hỏi thu hoạch, vận chuyển, bảo quản, chế biến theo những quy trình công nghệ chặt chẽ. Thứ sáu, nông sản là loại hàng hóa khó bảo quản, dễ hư hỏng và thối rữa.
Công nghiệp chế biến nông sản tạo ra sự đa dạng về giá trị sử dụng, tăng thời gian bảo quản, giảm tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch và giảm sự phụ thuộc sản xuất theo điều kiện tự nhiên. Tóm lại, nông sản có nhiều đặc điểm khác biệt so với các sản phẩm khác, từ việc sản xuất mang tính thời vụ, đến việc bảo quản và chế biến, tiêu thụ nông sản đều có những đặc thù riêng. Vì thế, các doanh nghiệp Việt Nam cần có những chính sách phù hợp để xuất khẩu nông sản Việt Nam có thể cạnh tranh với thị trường nông sản thế giới trong bối cảnh Việt Nam tham gia các FTA. Khái quát thị trường nông sản thế giới 1.
Tình hình thương mại nông sản thế giới -Sản lượng sản xuất Sản lượng sản xuất nông sản thế giới trong nhiều năm qua có xu hướng tăng nhưng với tốc độ chậm. Theo Báo cáo Tổng quan Nông nghiệp giai đoạn 2014- 2023 của OECD và FAO1, sản lượng nông sản thế giới trong 10 năm qua (2004- 2013) tăng 2,2%/năm và dự báo tăng chậm ở mức 1,6%/năm trong 10 năm tới nhưng vẫn cao hơn tỷ lệ tăng trưởng dân số thế giới 0,5%/năm. Một trong những nguyên nhân làm cho sản lượng nông sản tăng chậm so với thời gian trước là tình trạng đất canh tác ngày càng bị thu hẹp. Tốc độ tăng trưởng chậm là đặc điểm chính của sản lượng sản xuất nông sản của toàn thế giới trong mười năm tới.
Các nước phát triển, đặc biệt là những quốc gia có nền kinh tế mới nổi, đều rơi vào tình trạng sụy giảm về sản lượng nông sản 1 OECD - FAO, OECD-FAO Agricultural Outlook 2014-2023, có tại http://www.de/SharedDocs/Downloads/Landwirtschaft/Welternaehrung/OECD-FAO- AgriculturalOutlook.pdf?__blob=publicationFile, truy cập ngày 17/3/2015 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 với tốc độ tăng trưởng khá thấp. Tuy nhiên, do tốc độ tăng trưởng vẫn lớn hơn tốc độ tăng dân số, sản lượng nông nghiệp thế giới dự báo vẫn đáp ứng đầy đủ thậm chí dư thừa cho người dân toàn cầu. Các quốc gia phát triển đã tăng nguồn vốn đầu tư, sử dụng đa dạng các nguyên liệu đầu vào cùng với khả năng ứng dụng các phương pháp canh tác công nghệ cao góp phần làm cho nguồn cung trong ngắn hạn được bù đắp nhanh hơn trong quá khứ. Còn đối với các nước đang phát triển, trong dài hạn, sản lượng nông sản dự kiến tiếp tục tăng mạnh và điều này sẽ đưa thị phần nông sản của những nước này đến năm 2023 tăng lên so với các khu vực khác trên thế giới.
Các nước đang phát triển có xu hướng đầu tư vào hoạt động sản xuất nông sản và theo đuổi các chính sách để khuyến khích tăng trưởng sản lượng. Những nước này đều có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên như đất đai, sẵn sàng sử dụng đất vào mục đích canh tác và nâng cao năng suất nông sản bằng việc thu hẹp khoảng cách về năng suất so với các quốc gia phát triển. Việc mở rộng diện tích và gia tăng sản lượng dự báo sẽ duy trì sự thay đổi về thị phần của các nước đang phát triển. Do đó, Việt Nam cũng cần nắm bắt cơ hội này để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản sang thị trường thế giới.1: Sản lượng sản xuất thế giới một số loại lương thực giai đoạn 2004- 2014 (Đơn vị: triệu tấn) 3000 2500 2000 triệu tấn Ngũ cốc 1500 Lúa mì 1000 Ngũ cốc thô Gạo 500 0 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Năm (Nguồn: http://www.org/, 2015 2) 2 Food and Agriculture Organization of the United Nations, 2015, có tại: http://www.org/worldfoodsituation/csdb/en/, truy cập ngày 11/4/2015 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Ngũ cốc vẫn là mặt hàng chủ chốt của người dân trên toàn thế giới với sản lượng 2070,1 triệu tấn năm 2014.
Trong nhóm các loại lương thực chính của thế giới, sản lượng sản xuất gạo vẫn giữ vị trí khiêm tốn, chỉ bằng ¼ sản lượng của ngũ cốc do nhu cầu cũng như khả năng sản xuất không cao của các nước đang phát triển.2, sản lượng của các mặt hàng lương thực chính đều tương đối ổn định trong giai đoạn gần đây. Sản lượng sản xuất gạo có tăng, nhưng tăng với tốc độ chậm. Ví dụ, sản lượng sản xuất gạo thế giới trong hai năm 2013 và 2014 gần như không thay đổi, chỉ chênh lệch khoảng 1 triệu tấn. Theo báo cáo, sản lượng ngũ cốc thế giới sẽ tăng 15% vào năm 2023 so với trong giai đoạn 2011-2014.
Nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng về sản lượng ngũ cốc thô chủ yếu là nhu cầu sản xuất nhiên liệu sinh học tăng mạnh, đặc biệt ở các nước đang phát triển, và nhu cầu thức ăn chăn nuôi ở các khu vực đang phát triển. Sự mở rộng sản xuất các mặt hàng lương thực sẽ ổn định hơn trong thập kỷ tới, với sản lượng lúa mỳ tăng khoảng 12% và gạo tăng 14%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng của thập kỷ trước. -Kim ngạch xuất nhập khẩu Trong 3 năm (2004-2006), xuất nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp thế giới còn ở mức thấp, dưới 1. Từ năm 2007, thị trường nông sản thế giới có nhiều khởi sắc, cả kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu nông sản thế giới đều đạt mức trên 1.000 tỷ USD, với những mức kim ngạch lần lượt là 1.135 tỷ USD và 1.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Kim ngạch xuất nhập khẩu nông sản thế giới giai đoạn 2004-2013 (Đơn vị: tỷ USD) 2000 1800 1600 1400 1200 tỷ USD 1000 Kim ngạch xuất khẩu (tỷ USD) 800 Kim ngạch nhập khẩu (tỷ USD) 600 400 200 0 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Năm (Nguồn: http://stat.org/, 20133) Kim ngạch nhập khẩu nông sản luôn ở mức cao hơn kim ngạch xuất khẩu nông sản. Trong giai đoạn 2004-2008, kim ngạch xuất nhập khẩu nông sản thế giới tăng nhanh. Năm 2008 kim ngạch cả xuất khẩu và nhập khẩu nông sản thế giới đã tăng lên khoảng 600 tỷ USD so với năm 2004. Đặc biệt, năm 2009, nông nghiệp thế giới có sự suy giảm, sản lượng nông sản giảm so với năm 2008.
Tuy nhiên, từ năm 2009 đến nay, sản lượng cũng như kim ngạch xuất nhập khẩu nông sản vẫn tăng liên tục với tốc độ chậm. Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu thế giới đạt lần lượt là 1.744 tỷ USD và 1.851 tỷ USD, tăng gần 3 lần trong 10 năm (2004- 2013). -Các nước xuất khẩu, nhập khẩu chủ yếu Theo Báo cáo thống kê thương mại quốc tế năm 2014 của WTO4, xuất khẩu thế giới đối với sản phẩm nông nghiệp tăng gần 6% lên đến 1.745 tỷ USD trong năm 2013 sau sự trì trệ trong năm 2012. Tốc độ tăng trưởng cao hơn 3 lần so với mức trung bình của thế giới cho tất cả các hàng hóa (2 % trong năm 2013).
3 World Trade Organization, 2013, có tại: http://stat.org/StatisticalProgram/WSDBStatProgramReporter.aspx?Language=E, truy cập ngày: 25/3/2015 4 World Trade Organization, Internatinal Trade Statistics 2014, có tại: https://www.org/english/res_e/statis_e/its2014_e/its2014_e.pdf, truy cập ngày 11/4/2014 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.