Chương I: Tổng quan về cơ hội và thách thức của hiệp định RCEP đến hoạt động nhập khẩu nhựa nguyên sinh từ thị trường Trung Quốc của công ty TNHH Thương mại Quốc tế giải pháp toàn cầu Chương II: Cơ sở lý luận về nhập khẩu, cơ hội và thách thức của hiệp định thương mại tự do đến hoạt động nhập khẩu Chương III: Phân tích thực trạng cơ hội và thách thức khi nhập khẩu mặt hàng nhựa nguyên sinh từ thị trường Trung quốc của công ty TNHH Thương mại quốc tế giải pháp toàn cầu trong bối cảnh thực hiện hiệp định RCEP Chương IV: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp tận dụng cơ hội và đối phó thách thức khi nhập khẩu mặt hàng nhựa nguyên sinh từ thị trường Trung Quốc của Công ty TNHH Thương mại Quốc tế giải pháp toàn cầu trong bối cảnh thực hiện hiệp định RCEP. 8 Chương II: Cơ sở lý luận về nhập khẩu, cơ hội và thách thức của hiệp định thương mại tự do đến hoạt động nhập khẩu 2.1 Khái quát về nhập khẩu hàng hóa 2.1 Khái niệm về nhập khẩu hàng hóa Theo Khoản 2 Điều 28 Luật thương mại 2005: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Theo Freenstra và Taylor (Giáo trình Thương mại quốc tế, 2010): “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau. Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác.
Nhập khẩu là sản phẩm được mua bởi nước này từ nước khác”. Theo điều 28, khoản 1 của Luật Thương mại 2015: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Song hành cùng với hoạt động xuất khẩu trong hoạt động ngoại thương, nhập khẩu là hoạt động không thể thiếu đồng thời giúp cân bằng cán cân thương mại của quốc gia. Nhập khẩu hàng hóa được hiểu là các nghiệp vụ cần thiết để đưa hàng hóa hay nguyên vật liệu từ bên ngoài vào trong lãnh thổ một quốc gia hoặc từ khu vực đặc biệt như khu vực hải quan riêng nằm trên quốc gia đó để phục vụ tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, hoặc để chờ tái xuất nhằm mục đích thu lợi nhuận.2 Các hình thức nhập khẩu Nhập khẩu trực tiếp: Nhập khẩu trực tiếp là việc doanh nghiệp trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ cần thiết để nhập khẩu hàng hóa hay nguyên vật liệu từ thị trường nước ngoài vào trong nước với chi phí và danh nghĩa của mình rồi sau đó phân phối hàng hóa nhập khẩu này đến những khách hàng có nhu cầu trong nước. Tạm nhập, tái xuất: Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hóa được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có 9 làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam.
Nhập khẩu gia công: Nhập khẩu gia công là hình thức mà bên nhận nhập khẩu (bên nhận gia công) nhập khẩu những nguyên vật liệu từ bên xuất khẩu (bên đặt gia công), sau đó tiến hành gia công theo hợp đồng được ký kết như hai bên quy định. Nhập khẩu ủy thác: là việc doanh nghiệp ủy thác cho một đơn vị trung gian làm cầu nối thực hiện các nghiệp vụ cần thiết để nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài vào thị trường trong nước. Với cách thức này thì đơn vị trung gian sẽ thực hiện các công việc được giao với danh nghĩa của mình nhưng bằng chi phí của bên ủy thác giao cho. Nhập khẩu liên doanh: là hoạt động nhập khẩu hàng hóa trên cơ sở liên kết kỹ thuật một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp nhằm phối hợp kỹ năng, kỹ thuật để cùng giao dịch và đề ra các chủ trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên.3 Vai trò của nhập khẩu 2.1 Đối với doanh nghiệp Thông qua hoạt động nhập khẩu, các hàng hóa nước ngoài có chất lượng tốt, mẫu mã đa dạng, có sức cạnh tranh cao vào thị trường nội địa buộc doanh nghiệp sản xuất trong nước phải liên tục đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng, dịch vụ sản phẩm và giảm giá thành để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nội địa.
Điều này cũng làm tăng hiệu quả sản xuất, người lao động tìm được việc làm, đời sống được cải thiện. Nhập khẩu giúp làm nâng cao năng lực chuyên môn của các thành viên trong doanh nghiệp nhập khẩu vì hoạt động động này được thực hiện trên phạm vi quốc tế, có sự giao lưu của nhiều nền kinh tế khác nhau về chính trị, văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tập quán… Vì vậy, các doanh nghiệp nhập khẩu buộc phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị, các cán bộ, các cá nhân trong 10 doanh nghiệp luôn luôn phải học hỏi kinh nghiệm, nâng cao nghiệp vụ để hoàn thành tốt công việc của mình. Hoạt động nhập khẩu hàng hoá có vai trò trong việc nâng cao sức mạnh và uy tín của doanh nghiệp cả ở thị trường trong nước và trị thường quốc tế. Doanh nghiệp có thể sử dụng lợi nhuận từ hoạt kinh doanh đem lại để mở rộng lĩnh vực kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, góp phần tạo việc làm, cải thiện đời sống cho người lao động cũng như giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội, cải thiện và phát triển các mối quan hệ trong kinh doanh.
Đối với quốc gia Nhập khẩu sẽ bổ sung kịp thời những hàng hoá còn thiếu mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đủ tiêu dùng làm cân đối kinh tế, đảm bảo cho sự phát triển ổn định và bền vững, khai thác tối đa khả năng và tiềm năng của nền kinh tế. Nhập khẩu làm đa dạng hóa hàng tiêu dùng trong nước, phong phú chủng loại hàng hoá, mở rộng khả năng tiêu dùng, nâng cao mức sống của người dân. Nhập khẩu xoá bỏ tình trạng độc quyền toàn khu vực và trên thế giới, xóa bỏ nền kinh tế lạc hậu tự cung, tự cấp. Đồng thời thúc đẩy sản xuất trong nước không ngừng vươn lên, không ngừng tìm tòi nghiên cứu để sản xuất ra hàng hoá có chất lượng cao, đảm bảo, tăng cường sức cạnh tranh với hàng ngoại.
Nhập khẩu cơ bản là quá trình chuyển giao công nghệ, điều này tạo ra sự phát triển vượt bậc của nền sản xuất hàng hoá, tạo ra sự cân bằng giữa các quốc gia về trình độ sản xuất, tiết kiệm chi phí và thời gian. Ngoài ra nhập khẩu còn có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy xuất khẩu, góp phần nâng cao giá trị cũng như chất lượng hàng hoá xuất khẩu thông qua trao đổi hàng hoá đối lưu, giúp Việt Nam nhanh chóng hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.2 Tổng quan về hiệp định RCEP 2.1 Bối cảnh hình thành và mục đích của hiệp định RCEP 2.1 Bối cảnh hình thành hiệp định RCEP Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (Regional Comprehensive Economic Partnership – viết tắt là RCEP) là hiệp định thương mại tự do (FTA) ký giữa 10 nước ASEAN (trong đó có Việt Nam) và 05 nước đối tác bên ngoài ASEAN, bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và New Zealand Hiệp định RCEP được khởi động vào tháng 11-2012 tại Phnom Penh (Campuchia) theo sáng kiến của ASEAN nhằm khuyến khích thương mại giữa các nước thành viên và các đối tác Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, Australia. Đây đều là những quốc gia đã có Hiệp định thương mại tự do (FTA) độc lập với ASEAN. ASEAN và sáu đối tác đã bắt đầu đàm phán RCEP từ ngày 9-5-2013.
Và đến tháng 11-2019, các nước thành viên đã cơ bản hoàn tất đàm phán văn kiện RCEP. Tuy nhiên lúc này, Ấn Độ đã tuyên bố rút khỏi hiệp định, với lo ngại thâm hụt thương mại gia tăng do các quy định hạ thấp hàng rào thuế quan của hiệp định sẽ khiến cho hàng hóa của nước này khó cạnh tranh với nguồn hàng giá rẻ, bao bì bắt mắt từ Trung Quốc, trong khi hàng hóa Ấn Độ lại không được bảo đảm lợi thế tương tự tại thị trường Trung Quốc. Hiệp định được ký kết trực tuyến ngày 15/11/2020 nhân Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 37 tại Hà Nội. Chính thức có hiệu lực vào 1/1/2022, Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực (RCEP) được kỳ vọng sẽ thúc đẩy hoạt động thương mại - đầu tư trong và ngoài khu vực Đông Nam Á cũng như Đông Á.
Mục tiêu của hiệp định - Thành lập một khuôn khổ hợp tác kinh tế hiện đại, toàn diện, chất lượng cao, và cùng có lợi nhằm tạo thuận lợi cho việc mở rộng thương mại và đầu tư khu vực và đóng góp cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế toàn cầu, có tính đến giai đoạn phát triển và nhu cầu kinh tế của các Bên, đặc biệt là các Nước kém phát triển nhất; - Từng bước tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại hàng hóa giữa các Bên thông qua, nhưng không hạn chế ở, xóa bỏ dần các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong hầu hết thương mại hàng hóa giữa các Bên; 12 - Từng bước tự do hóa thương mại dịch vụ giữa các Bên, với phạm vi ngành đáng kể nhằm xóa bỏ hầu hết các hạn chế và các biện pháp phân biệt đối xử áp dụng trong thương mại dịch vụ giữa các Bên; và - Tạo ra môi trường đầu tư tự do, thuận lợi và cạnh tranh trong khu vực để tăng cường cơ hội đầu tư và tăng cường sự thúc đẩy, sự bảo vệ, sự thuận lợi, và tự do hóa đầu tư giữa các Bên.2 Nội dung của hiệp định RCEP Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) được xem là một trong những hiệp định thương mại có ý nghĩa to lớn đối với Việt Nam nói riêng và 15 quốc gia nói chung, chiếm tới 32% tổng GDP toàn cầu.