Chương I: Nội dung cơ bản của Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC và các cơ hội, thách thức đối với các doanh nghiệp trong ASEAN Chương II: Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi nƣớc ta gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC Chương III: Đề xuất giải pháp giúp doanh nghiệp Việt Nam khai thác cơ hội và vƣợt qua thách thức khi tham gia vào Cộng đồng kinh tế ASEAN – AEC Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của giảng viên PGS. Vì quỹ thời gian và trình độ cá nhân của tác giả có hạn nên khóa luận không tránh khỏi những khiếm khuyết. Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và bạn bè. Em xin trân trọng cảm ơn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƢƠNG I: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN – AEC VÀ CÁC CƠ HỘI, THÁCH THỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG ASEAN 1. Khái quát về Cộng đồng kinh tế ASEAN 1. Khái niệm về Cộng đồng kinh tế khu vực và nguyên tắc thành lập Cộng đồng kinh tế khu vực 1. Khái niệm, đặc điểm và các cấp độ của liên kết kinh tế quốc tế Liên kết kinh tế quốc tế là một hình thức trong đó quá trình xã hội hóa mang tính chất quốc tế đối với quá trình tái sản xuất diễn ra giữa các chủ thể kinh tế quốc tế.
Sự hình thành một tổ hợp kinh tế quốc tế này giữa một nhóm thành viên sẽ nhằm tăng cường sự phối hợp, giúp điều chỉnh ích lợi giữa các bên, giảm thiểu khoảng phát triển giữa các bên và đưa quan hệ kinh tế quốc tế phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Quá trình liên kết kinh tế quốc tế sẽ hình thành một thực thể kinh tế mới ở cấp độ cao hơn, với các mối quan hệ kinh tế quốc tế đa dạng và phức tạp hơn (Tô Xuân Dân, 1998). Các bên tham gia liên kết kinh tế quốc tế có thể là các quốc gia và vùng lãnh thổ hoặc các tổ chức doanh nghiệp. Theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Hoa, 2004, đặc điểm của liên kết kinh tế quốc tế bao gồm: - Liên kết kinh tế quốc tế là hình thức phát triển cao hơn của phân công lao động quốc tế.
Do sự bùng nổ của cách mạng khoa học công nghệ cùng với xu hướng quốc tế hóa của kinh tế thế giới, phân công lao động quốc tế đã phát triển mạnh cả về chiều sâu lẫn chiều rộng, đã và đang di chuyển từ phân công lao động theo sản phẩm và theo ngành sang phân công theo cấu tạo của sản phẩm và theo quy trình công nghệ. Điều này dẫn đến sự hình thành một hình thức mới cho sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, được gọi là sự liên kết kinh tế quốc tế. - Liên kết kinh tế quốc tế làm gia tăng số lượng và chất lượng của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên và làm nên cơ cấu kinh tế mới trong quá trình liên kết. Với việc liên kết kinh tế, các mối quan hệ kinh tế quốc tế sẽ thường xuyên hơn, ổn định hơn và được củng cố với mục đích phát triển lâu dài.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Liên kết kinh tế quốc tế liên quan đến và bao trùm lên mọi khía cạnh của nền kinh tế. - Liên kết kinh tế quốc tế là sự kết hợp mang tính chất liên quốc gia. Bởi vậy, nó thường chịu sự điều tiết của các chính sách kinh tế của các Chính phủ, mà nền kinh tế giữa các quốc gia không bao giờ có sự thống nhất về thể chế, trình độ phát triển và thành phần kinh tế xã hội. Chính vì thế mà liên kết kinh tế quốc tế sẽ đóng vai trò điều chỉnh giữa các nền kinh tế của các nước.
Có thể nói, quá trình liên kết kinh tế quốc tế có tác dụng tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển thuận lợi hơn. - Trên thị trường quốc tế đang diễn ra hai luồng xu hướng có sự cạnh tranh gay gắt là xu hướng bảo hộ mậu dịch và xu hướng tự do hóa thương mại. Các hình thức mới, tinh vi hơn của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch có nguy cơ gia tăng nhiều hơn. Trong điều kiện đó, liên kết kinh tế quốc tế đóng vai trò như một cách để trung hòa và tạo nên các khu vực thị trường tự do cho các thành viên.
Tạo lập thị trường quốc tế khu vực không có ngăn trở về hàng rào thuế quan và phi thuế quan, tạo nên khung kinh tế và khuôn khổ pháp lý hợp lý cho việc gia tăng mậu dịch quốc tế, củng cố và mở rộng các mối quan hệ thị trường trong thị trường là điều mà liên kết kinh tế quốc tế đang hướng tới. - Quá trình liên kết kinh tế quốc tế chỉ diễn ra với hành động tự giác của các thành viên nhằm tiến hành điều chỉnh và phối hợp các chương trình phát triển kinh tế với những thỏa thuận dựa trên nguyên tắc các bên cùng có lợi giữa các thành viên. Trong giai đoạn hiện nay, biểu hiện rõ nhất việc cấp độ khu vực hóa nền kinh tế thế giới ngày càng gia tăng là sự phát triển và gia tăng của các liên kết kinh tế khu vực như các khối EU, NAFTA, AFTA, ASEAN, APEC…Các liên kết kinh tế này còn là khuôn khổ để cạnh tranh lành mạnh giữa các nhóm nước, phục vụ cho lợi ích kinh tế quốc gia. Xét theo cấp độ cam kết tự do hóa thương mại, năm mức độ của liên kết kinh tế quốc tế sẽ bắt đầu từ khu vực thương mại tự do ít bị cấm đoán nhất cho tới liên minh kinh tế hoàn toàn dung hòa hoàn toàn các chính sách tài khóa, tiền tệ cũng như kinh tế - xã hội.
Giữa chúng là liên minh hải quan và thị trường chung. Các nhóm kinh tế thường được tạo ra do nằm chung trong một khu vực địa lý nhất định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Các loại hình liên kết kinh tế khu vực Chính Dịch Chính Thương sách chuyển sách tiền Một Hình thức liên kết kinh tế mại tự do thương nhân tố tệ và tài chính nội khối mại sản xuất khóa phủ chung tự do chung Khu vực mậu dịch tự do Có Không Không Không Không Liên minh thuế quan Có Có Không Không Không Thị trường chung Có Có Có Không Không Liên minh kinh tế Có Có Có Có Không Liên minh chính trị Có Có Có Có Có Nguồn: Lê Đăng Doanh, 2014, “Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam”, Báo Tia Sáng, số 20, tr.16 - Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area – FTA) Đây là một liên minh quốc tế giữa hai hay nhiều nước nhằm mục đích tự do hóa việc buôn bán một hoặc một số mặt hàng nào đó. Biện pháp thường xuyên được sử dụng là giảm bớt và xóa bỏ các công cụ thuế quan và phi thuế quan giữa các nước thành viên để hình thành một thị trường thống nhất.
Tuy nhiên, mỗi nước vẫn sẽ kí kết các chính sách ngoại thương độc lập với các quốc gia khác nằm ngoài liên minh khu vực mậu dịch tự do. Các ví dụ tiêu biểu cho khu vực mậu dịch tự do là khu vực NAFTA, khu vực AFTA,…Mục đích chính của khu vực mậu dịch tự do là khuyến khích phát triển thương mại trong nội bộ khối, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế các quốc gia thành viên và tăng cường thu hút đầu tư từ các nước bên trong cũng như bên ngoài khối. - Liên minh thuế quan (Custom Union) Đây là một liên minh quốc tế với nội dung bãi miễn thuế quan và những hạn chế về mậu dịch khác giữa các nước thành viên. Tuy nhiên, điểm khác biệt so với khu vực mậu dịch tự do là, trong liên minh thuế quan, người ta thiết lập một biểu thuế quan thống nhất cho các quốc gia thành viên với phần còn lại của thế giới.
Trong liên minh thuế quan, chính sách thương mại chung chống lại việc mỗi thành viên giữ quyền tự quyết định các chính sách thương mại và thuế quan đối với khuôn khổ ngoài liên minh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Thị trường chung (Common Market) Đây là một liên minh quốc tế có đặc điểm gần giống liên minh thuế quan trong thương mại hàng hóa, dịch vụ, nhưng thêm một đặc điểm hơn nữa là sự lưu chuyển tự do của tư bản và nguồn nhân lực giữa các quốc gia thành viên với nhau, dẫn đến sự hình thành thị trường thống nhất theo nghĩa rộng. Thị trường chung có những đặc điểm cơ bản sau: Tự do lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và vốn thông qua khu vực tự do thương mại, loại bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan và phi thuế Tự do di chuyển lao động có tay nghề Tự do di chuyển khách du lịch trong khu vực Tạo ra cơ sở sản xuất trong khu vực có tính thu hút FDI Thống nhất, hài hòa hóa và giảm thiểu các thủ tục, yêu cầu hải quan, các quy định hành chính Thống nhất các tiêu chuẩn sản phẩm trong khu vực để thích nghi với các tiêu chuẩn quốc tế Hoàn thiện hành lang pháp lý để đẩy mạnh sự thống nhất trong cộng đồng kinh tế Sự hòa hợp tương đối về nguyên tắc và chính sách kinh tế của các quốc gia Ví dụ tiêu biểu cho khái niệm thị trường chung là mô hình Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) trước năm 1992. - Liên minh kinh tế (Economic Union) Liên minh kinh tế là mức độ cao nhất của hợp tác kinh tế.
Trong một liên minh kinh tế, không có sự cản trở việc lưu chuyển của hàng hóa, dịch vụ và vốn, có sự dung hòa giữa các hoạt động và chính sách kinh tế liên quan đến tài chính – tiền tệ giữa các nước thành viên đều được dung hòa. Ví dụ tiêu biểu cho Liên minh kinh tế là Liên minh châu Âu EU. “Cộng đồng kinh tế khu vực” là một cấp độ của quá trình liên kết kinh tế quốc tế Từ các cấp độ của liên kết kinh tế quốc tế trên cho thấy, “Cộng đồng kinh tế khu vực” là khái niệm mở, vừa có thể đáp ứng hoặc thậm chí vượt các tiêu chí của “thị trường chung”, cũng vừa có thể chưa đạt tới hoặc đạt tới chưa hoàn toàn với sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 loại trừ một số tiêu chí của “thị trường chung”. Điều này phụ thuộc vào sự lựa chọn mô hình của thể chế kinh tế khu vực.