MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài ồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, trưng dụng đất là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai. Chính sách này được thực hiện bởi mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (viết tắt là người Sử dụng đất) bị thu hồi đất. Những năm gần đây, chính sách đất đai, nhà ở (gọi chung là nhà đất) đang c n nhiều vướng mắc chưa được giải quyết hoặc tháo gỡ dẫn đến việc thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng càng trở nên phức tạp.
ử lý không tốt vấn đề này s gây tình trạng mất ổn định trong đời sống hội, đặc biệt là quá trình chuyển đổi mục đích Sử dụng đất, hoạt động thu hồi đất sản uất, trong đó chủ yếu là quỹ đất nông nghiệp khu vực nông nghiệp, nông thôn. Khi thực hiện chính sách thu hồi đất và tái định cư như Việt Nam, một số tài liệu hội thảo quốc tế về bồi thường tái định cư ghi nhận quan điểm của nhiều nước cũng như các tổ chức Ngân hàng thế giới, ngân hàng phát triển Châu thể hiện đồng nhất về cách nhìn nhận khi thực hiện chính sách này, đó là “phương thức quản lý, sử dụng đất thay đổi khi nhà nước thu hồi đất cho mục đích an ninh quốc ph ng, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia. Theo đó, nhà cửa, các cấu trúc và hệ thống công cộng, các mạng lưới dịch vụ hội, hệ thống cơ sở hạ tầng có thể bị phá vỡ; các phương tiện sản uất bao gồm đất đai, nguồn thu nhập, kế sinh nhai do đất đai tạo ra có thể bị mất; đặc trưng văn hóa và tiềm năng về sự hỗ trợ lẫn nhau để đảm bảo đời sống hội bị triệt tiêu; mất tài nguyên cho sinh tồn và hệ sinh thái bị ảnh hưởng”. Tất cả dẫn đến những khó khăn, căng thẳng về hội và dễ dàng dẫn tới sự bần cùng hóa đời sống dân cư.
nước ta, nhiều năm trở lại đây, con số dự án đầu tư hàng năm tăng nhanh k o theo nhu cầu, quy mô sử dụng đất (phải thu hồi) ngày càng gia 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tăng, theo số liệu báo cáo của ộ TN&MT năm 2014, các địa phương đ triển khai thực hiện 2.194 công trình, dự án.thực hiện bồi thường, GPM 6.810 ha đất nông nghiệp/tổng số 7.882 ha, hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất có 79.738 trường hợp/tổng số 80.893 trường hợp. Hệ quả từ việc thực hiện chính sách thu hồi đất là hàng ngàn hộ gia đình, người lao động nông nghiệp bị mất đất sản uất, mất việc làm, kinh tế đời sống gặp khó khăn dẫn đến tình trạng đói-nghèo; khiếu kiện về đất đai từ nguyên nhân thu hồi đất không giảm về số lượng và quy mô. Nếu năm 2009, khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai chiếm số lượng lớn, khoảng 80% so với các khiếu nại, tố cáo trong cả nước theo báo cáo công tác quản lý nhà nước về đất đai năm 2014 ngày 20/07/2015 củ ộ Tài nguyên và Môi trường thì giai đoạn 2011-2016, tỷ lệ này đ tăng lên đến 97%. Đề cập đến vấn đề này, kỳ họp thứ 8 - Quốc hội khóa đ đánh giá “Nhiều vấn đề hội rất bức úc: Thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn vẫn rất gay gắt.
Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển, thực hiện chính sách bồi thường hỗ trợ và TĐC khi nhà nước thu hồi đất, trưng dụng đất đang là vấn đề hết sức nhạy cảm và mang tính thời sự nóng bỏng. Do tính chất và tầm quan trọng của công tác quản lý, sử dụng đất đai và mối quan hệ tương tác giữa nhà nước và người Sử dụng đất, hoạt động thu hồi đất tuy số lượng đề tài nghiên cứu không nhiều như các chủ đề khác (đặc biệt là dự báo về cơ hội phát triển của người bị ảnh hưởng) nhưng nó được em là đối tượng nghiên cứu cần thiết của quá trình phát triển. Những nội dung liên quan đến chính sách này được các học giả, tổ chức quan tâm nghiên cứu với nhiều hướng tiếp cận và được em t dưới các góc độ khác nhau. Tại Thái ình, theo Nghị quyết số 39/NĐ-Cp của Chính phủ ban hành ngày 28/3/2013 về việc quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất đầu kỳ (2011- 2015), địa phương cần thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng 8.180 ha đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng sang đất phi nông 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệp phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế- hội và an ninh quốc ph ng.
Thực hiện Nghị quyết trên, U ND tỉnh ban hành quyết định số 3013/QĐ- U ND ngày 15/12/2014 về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển bền vững kinh tế hội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Theo Quyết định này, mọi quận, huyện, , phường triển địa bàn đều cần ây dựng chiến lược, kế hoạch thu hồi đất cho cả giai đoạn và cho từng năm cụ thể. Là một đơn vị hành chính thuộc tỉnh Thái ình, huyện Vũ Thư được giao thu hồi khoảng 2.000 ha trong cùng giai đoạn trên, do vậy, các hoạt động thu hồi đất được triển khai mạnh m tại đây và đem lại nhiều cơ hội phát triển cho người dân địa phương. uất phát từ những vấn đề trên, cùng với những gợi mở hướng nghiên cứu từ các đề tài đi trước, luận án về “Cơ hội phát triển của nhóm cư dân bị thu hồi đất trong khu vực giải phóng mặt bằng tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình” s đưa đến cách nhìn nhận cơ hội phát triển của người dân tại địa bàn từ đó phân tích đánh giá về các chính sách liên quan đến đất đai và thu hồi đất tại địa bàn nghiên cứu.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2. Ý nghĩa khoa học - Đề tài luận án ứng dụng và góp phần kiểm chứng, phát triển lý thuyết hội học phát triển, thuyết ung đột và thuyết tương tác hội. - Góp phần nâng cao nhận thức hội về ý nghĩa và sự cần thiết của việc nghiên cứu về các cơ hội phát triển của người dân có đất bị thu hồi. - Góp phần cung cấp luận cứ trong việc triển khai các chủ trương, hoạt động thu hồi đất và cơ hội phát triển của nhóm cư dân bị thu hồi đất khi thực hiện hoạt động thu hồi đất hiện nay 2.
Ý nghĩa thực tiễn Đề tài góp phần nhận diện, phân tích, đánh giá và đo lường thực trạng thu hồi đất và các cơ hội phát triển của nhóm cư dân bị thu hồi đất: 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thực trạng thu hồi đất và các chủ trương, hoạt động thu hồi đất tại Thái ình và huyện Vũ Thư tỉnh Thái ình - Cơ hội chuyển đổi việc làm và nâng cao trình độ chuyên môn/kỹ thuật của người dân có đất bị thu hồi tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái ình. - Cơ hội nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống của người dân có đất bị thu hồi tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái ình - Cơ hội nâng cao nhận thức về quyền lợi của người dân có đất bị thu hồi tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái ình - Nguy cơ đánh mất các giá trị, chuẩn mực và lối sống mới của người dân có đất bị thu hồi tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái ình - Nguy cơ sa vào tệ nạn hội của người dân có đất bị thu hồi tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái ình - Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần đưa ra một số ý kiến tư vấn đối với Nhà nước, chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên trách, các cán bộ trong lĩnh vực đất đai và người dân nhằm giúp cho hoạt động thu hồi đất hiệu quả hơn. - Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo bổ ích với các ngành địa chính, Luật, đặc biệt là các địa phương về thu hồi đất và cơ hội phát triển của người dân bị thu hồi đất. Đây cũng là tài liệu tham khảo giá trị cho các giảng viên, học viên nghiên cứu giảng dạy về địa chính, hội học ở Việt Nam.
Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Khách thể nghiên cứu - Các hộ dân bị thu hồi và không bị thu hồi đất đất tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái ình. - Cán bộ quản lý tài nguyên môi trường tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái ình. - Chính quyền địa phương huyện Vũ Thư tỉnh Thái ình.
Đối tượng nghiên cứu Cơ hội phát triển của nhóm cư dân có đất bị thu hồi trong khu vực GPMB tại Huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phạm vi nghiên cứu * Về không gian: Đề tài luận án được thực hiện tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái ình. Lý do lựa chọn địa bàn nghiên cứu như sau: Theo Odette và cộng sự (2008) và Uỷ ban thống kê Canada (2010) việc lựa chọn địa bàn nghiên cứu có thể được thực hiện theo chủ đích của nhà nghiên cứu nếu thỏa m n các điều kiện như: (1) địa bàn được lựa chọn chủ đích chứa đựng các thông tin/hiện tượng phù hợp với vấn đề nghiên cứu và có giả thuyết hợp lý, và (2) hạn chế về nguồn lực không cho ph p điều tra trên diện rộng. Thực tế, thu hồi và chuyển đổi mục đích sử dụng đất diễn ra trên toàn quốc, nhưng sự hạn chế nguồn lực tài chính, ngân quỹ thời gian, cũng như nguồn lực con người không cho ph p nghiên cứu sinh tiến hành khảo sát trên toàn bộ các tỉnh thành của Việt Nam.
Do vậy, nghiên cứu sinh thực hiện phương pháp lựa chọn địa bàn có chủ đích, đó là huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Trong quá trình âm nhập địa bàn phỏng vấn sơ bộ trước khi ra quyết định lựa chọn, nghiên cứu sinh đ thu thập được nhiều thông tin định tính cho thấy công tác thu hồi đất diễn ra từ nhiều năm nay tại đây, mạnh nhất là trong giai đoạn 2001- 2015. Chính sách này tạo ra nhiều áo trộn, nhưng đồng thời cũng tạo ra cơ hội cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân nơi đây. Các thông tin trên phù hợp với giả thuyết nghiên cứu chung của luận án là “thu hồi đất tạo cho người dân nơi đây nhiều cơ hội phát triển, nhưng đồng thời cũng tạo ra nhiều tác động tiêu cực đến nhóm dân số này”.
Do vậy, việc lựa chọn địa bàn có chủ đích này phù hợp với phương pháp mà Odette và cộng sự (2008) và Uỷ ban thống kê Canada [Statistics Canada, 2010] đ nêu.