chương 1 Phần thứ 6 Quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ trong Bộ luật Dân sự 1995 và trong luật chuyên ngành là Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi năm 2009, năm 2011). Khái niệm và đặc điểm của quyền tác giả, quyền liên quan Theo khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, quyền tác giả được quy định cụ thể là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”. Theo đó, pháp luật Việt Nam thừa nhận sản phẩm sáng tạo do tư duy con người tạo ra mặc dù là vô hình nhưng vẫn là một loại tài sản và phải cần được bảo hộ. Về thuật ngữ quyền tác giả, chúng ta còn nghe thêm một thuật ngữ khác nữa đó chính là bản quyền.
Quyền tác giả được sử dụng trong hệ thống luật Châu Âu lục địa, chú trọng đến khía cạnh quyền nhân thân gắn liền với tác giả và những giá trị tinh thần của tác phẩm. Trong khi đó, thuật ngữ bản quyền được sử dụng nhiều trong pháp luật Anh - Mỹ, tập trung nhiều đến khía cạnh thương mại, quyền lợi về kinh tế của người sở hữu của quyền tác giả hơn. Trong khi đó, tại khoản 3 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, quyền liên quan đến quyền tác giả là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.” Liên quan đến đặc điểm của quyền tác giả, quyền tác giả có những đặc điểm chung của các quyền sở hữu trí tuệ nói chung và những đặc trưng riêng. Về đặc điểm chung, quyền sở hữu trí tuệ mang tính vô hình so với các quyền sở hữu khác.
Trong khi các 17 quyền sở hữu thông thường thì tài sản có thể cầm nắm hay tác động vật lý được, còn quyền tác giả là một loại tài sản được hình thành dựa trên kết quả lao động trí óc, tư duy sáng tạo nên nó là một loại tài sản vô hình. Bên cạnh đó, quyền tác giả cũng có những đặc điểm riêng biệt. Cụ thể, quyền tác giả chỉ bảo hộ về hình thức mà không bảo hộ về nội dung, ý tưởng sáng tạo. Do đó, tác phẩm cần phải được định hình dưới dạng hình thức vật chất nhất định.
Sở dĩ, việc có ý tưởng và biến ý tưởng đó ra một sản phẩm cụ thể là một quá trình dài và cần nhiều công sức, nên chỉ khi tác phẩm đó được hoàn thành dưới dạng một hình thức cụ thể thì nó mới được công nhận và bảo hộ. Điều này làm cho quyền tác giả khác với các quyền sở hữu trí tuệ khác như quyền sở hữu công nghiệp. Ngoài ra, quyền tác giả cần phải đảm bảo tính nguyên gốc. Tính nguyên gốc được hiểu là tác phẩm đó là sản phẩm được xây dựng một cách độc lập và không có sự vay mượn từ người khác.
Một đặc điểm khác của quyền tác giả đó chính là quyền tác giả được phát sinh một cách tự động kể từ khi tác phẩm được sáng tạo ra, do đó việc xác lập quyền tác giả theo cơ chế tự động và không bắt buộc đăng ký với cơ quan có thẩm quyền. Còn đối với quyền liên quan, đặc điểm đầu tiên đó chính là tính nguyên gốc. Quyền liên quan chỉ được bảo hộ trong khoảng thời gian nhất định bao gồm cả quyền nhân thân. Thêm vào đó, quyền liên quan không được gây phương hại đến quyền tác giả.
Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan Theo từ điển Tiếng Việt, một trong những ý nghĩa của bảo hộ là “hành động che chở, không để bị hư hỏng tổn thất”. Như vậy, hoạt động bảo hộ quyền tác giả có thể hiểu là việc “cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi nhận quyền tác giả của người sáng tạo ra tác phẩm, với việc ghi nhận bằng văn bằng bảo hộ các quyền nhân thân và quyền tài sản của chủ sở hữu sẽ được pháp luật bảo vệ, các chủ thể khác nếu như có hành vi xâm phạm quyền tác giả sẽ bị xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.”1 Việc bảo hộ quyền tác giả được thực hiện theo hai quyền cụ thể bao gồm quyền tài sản và quyền nhân thân. Quyền nhân thân bao gồm các quyền: đặt tên cho tác 1 Hoang Anh IBC Law Firm, “Khái niệm bảo hộ quyền tác giả và ý nghĩa của bảo hộ quyền tác giả”, xem tại: https://luathoanganh.vn/tu-van-so-huu-tri-tue/khai-niem-bao-ho-quyen-tac-gia-va-y-nghia-bao-ho-quyen-tac-gia, (truy cập ngày 27/6/2022). 18 phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng, công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Còn đối với quyền tài sản thì bao gồm: quyền làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn tác phẩm trước công chúng, sao chép tác phẩm, phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, hành vi truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác hay việc cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính. Tương tự, bảo hộ quyền liên quan cũng được thực hiện cho hai quyền quyền tài sản và quyền nhân thân. Đối tượng bảo hộ của quyền liên quan là cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu thông tin được mã hoá căn cứ theo Điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Lý luận về hết quyền sở hữu trí tuệ 1.
Thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ Quyền tác giả là một chế định chính đáng không thể bàn cãi dành cho cá nhân, tổ chức sáng tạo ra tác phẩm. Nhưng nếu khi để tác giả hay chủ sở hữu của một tác phẩm được độc quyền hoàn toàn và mãi mãi trong việc khai thác thương mại và phân phối tác phẩm của họ thì lại làm phát sinh một vấn đề đó chính là hạn chế sự tiếp cận của xã hội, công chúng với những kiến thức, sáng tạo mới. Đặc biệt trong thời kì của sự tự do hoá thương mại cùng với việc thúc đẩy việc nhập khẩu song song thì việc áp đặt việc bảo hộ sự độc quyền cho tác giả hay chủ sở hữu lại càng gây ra nhiều cản trở về mặt thương mại. Việc xác định ranh giới giữa việc bảo hộ quyền tác giả và sự độc quyền quyền tác giả ảnh hưởng tiêu cực đến những lợi ích khác là một vấn đề hết sức khó khăn.
Vì thế, một chế định rõ ràng hơn về sự cân bằng lợi ích là vô cùng cần thiết đối với cả hai phía, một bên là những tổ chức, cá nhân mang quyền lợi sở hữu trí tuệ cần được bảo hộ và một bên là lợi ích chung về mặt kinh tế, đảm bảo sự phát triển chung của xã hội. Từ đó, xây dựng nên cơ sở pháp lý là thuyết hết quyền. 19 Thuyết hết quyền hay còn có cái tên khác là cạn quyền (“exhaustion of rights”) được WIPO định nghĩa trong “Interface between of IP rights and competition law” được hiểu là một việc tiêu thụ hết các quyền đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ như một hậu quả pháp lý của việc chuyển nhượng các sản phẩm mang tài sản thuộc quyền sở hữu trí tuệ.2 Hết quyền quyền tác giả là một trong các khía cạnh trong hết quyền SHTT bao gồm các mảng khác như: hết quyền về sáng chế, hết quyền về nhãn hiệu,…Cụm từ “hết quyền quyền tác giả” trong Khoá luận tốt nghiệp sẽ được tác giả tiếp cận theo hướng bao gồm cả quyền tác giả và quyền liên quan. Tài sản sở hữu trí tuệ nói chung hay quyền tác giả nói riêng có một đặc điểm đó chính là tính vô hình, không thể nhìn ngắm, sờ nắm như các loại tài sản thông thường khác.
Quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản mang tính định tính, có thể là những biểu hiện, kiến thức, danh tiếng, chất lượng hay có thể là xuất xứ. Đôi khi, quyền sở hữu trí tuệ được liên kết với một sản phẩm hữu hình chứa đựng chúng bên trong. Ví dụ như một chương trình, phần mềm được thể hiện trong chiếc điện thoại hay máy tính, một bài nhạc được phát thông qua một chiếc đĩa CD, DVD… Khi chủ thể quyền tác giả (gồm tác giả hoặc chủ sở hữu) cho phép chuyển nhượng sản phẩm chứa đối tượng quyền sở hữu trí tuệ của mình lần đầu tiên ra thị trường thì họ sẽ không còn quyền kiểm soát, can thiệp sự lưu thông của sản phẩm này trong vòng lưu chuyển trên thị trường. Nghĩa là, một khi chủ thể quyền tác giả chấp thuận bán đi sản phẩm có chứa quyền tác giả của mình thì sẽ không còn sự kiểm soát đối với các bản sao tương tự đối với bản đầu tiên mà chủ thể quyền chuyển nhượng.
Đây cũng chính là nội dung của thuyết bán lần đầu (“the first sale doctrine”). Về cơ bản, thuyết hết quyền hay thuyết bán lần đầu được sử dụng để chỉ một hiện tượng giống nhau, trong đó, thuật ngữ “thuyết bán lần đầu” được sử dụng nhiều hơn trong pháp luật Anh - Mỹ. Trong hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, thuật ngữ “hết quyền” trong thuyết hết quyền được đề cập trong những tài liệu của Tòa án Reichsgericht, Đức (1879-1945) để giải quyết vụ Guajakol-Karbonatas về sáng chế vào năm 1902. Trong đó quy định 2 “Exhaustion means the consumption of rights in intellectual property subject matter as a consequence of the legitimate transfer of the title in the tangible article that incorporates or bears the intellectual property asset in question.” 20 rằng: “nếu nhà sáng chế chuyển nhượng sản phẩm của mình được bảo hộ bởi một loại quyền mang tính độc quyền thì người đó đã hưởng được những quyền lợi do sáng chế đó đem lại, do đó người đó đã tiêu thụ hết quyền của chính mình sau khi chuyển nhượng”.
Trong khi đó, trong hệ thống luật Anh - Mỹ, nguyên tắc bán lần đầu được đề cập một cách tương tự vào thế kỉ 19 theo các quyết định của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ và trong giấy phép ngụ ý (“Implied License”) của Hội đồng Cơ mật Anh bởi Christopher Stothers.3 Thuyết hết quyền hay thuyết bán lần đầu không hề mâu thuẫn với việc bảo hộ tác phẩm gốc của tác giả mà nó liên quan đến việc sao chép và phân phối sản phẩm có liên quan đến tác phẩm.